Ñeä Töû Quy laø tri thöùc cuûa ngöôøi xöa ñeå laïi.
Toå Tieân nhaân haäu giuùp ñôõ cho neân
Quoác Gia, xaõ hoäi, ñôøi soáng cuûa Quyù vò
khi thöïc haønh seõ ñöôïc keát quaû toát ñeïp

detuquy.edu.vn

* LỤC HÒA, LỤC ĐỘ GIẢNG GIẢI

LỤC HÒA, LỤC ĐỘ

GIẢNG GIẢI

Giảng giải: Pháp Sư Tịnh Không

Việt dịch: Cư Sĩ Diệu Âm

 

Kính thưa, Cư Sĩ Hoàng Gia Truyền. Nghị viên hành chánh tỉnh Phích Lực.

Kính thưa, ông Khư Tư Đông, Nghị Viên Quốc Hội Kim Bảo. Kính thưa Cư Sĩ Trịnh Quang Tổ, Nghị viên Tỉnh. Pháp Sư Pháp Tuyên, Trụ Trì Đạo Tràng Tịnh Tông Di Bảo. Cư Sĩ Hạ Kiến Quyền, Hội Trưởng Hội Tịnh Tông Học Hội Dị Bảo, Cư Sĩ Lý Thị Hy chủ tịch công quỹ đại hội tại Di Bảo.

Quý Vị thân hào Nhân Sĩ. Quý Vị nghị viên Tỉnh thị Quốc Gia. Quý Vị đồng tu học hội. Quý Vị Đại Đức, Cư Sĩ. Quý Vị đại biểu giới văn học, giáo dục. Quý Vị đại biểu giới báo chí và chư vị Hộ Pháp, Pháp Sư, Đại Đức, các bạn đồng học.

Đêm hôm nay, chúng ta ở nơi đây tụ hội thật là vô cùng hiếm có, đúng lúc là ngày tết Trung Thu năm 2000, chúng ta không ra bên ngoài thưởng thức Trăng tròn, mà ngồi ở trong này tụ hội với nhau để đàm luận Phật Pháp, làm thế nào thực hiện công việc trong cuộc sống của chúng ta, giống như tết trung thu Trăng tròn không khác. Điều này còn có ý nghĩa hơn là hưởng Nguyệt.

Ông Chủ Tịch Đại Hội Lý Cư Sĩ đã nói cho tôi một cái đề mục là Lục Hòa, Lục Độ hai điều này cũng là đúng lúc các đồng Tu Tịnh Tông chúng ta. Hai điều này là trong khoa mục tu học. Lúc mới thành lập Tịnh Tông Học Hội, chúng tôi y theo lời dạy trong của Kinh Luận đề ra năm khoa mục để tu học.

Khoa mục thứ nhất là Tam Phước. Ngày hôm kia Chùa Cực Lạc Tân Thành đã diễn giải hai thời. Chúng tôi giảng giải Tam Phước.

Khoa mục thứ hai là Lục Hòa. Đêm nay, ở đây lại tiếp tục giới thiệu cho nên điều này vô cùng có ý nghĩa. Chẳng những là Nhà Nho Trung Quốc đề sướng hòa là quý nhất.

Phật Pháp và Nhà Nho cho đến trên toàn Thế Giới có tất cả nhà Tôn Giáo trên toàn Thế Giới, không có vị nào mà không đề sướng hòa bình. Ý nghĩa của hai chữ hòa bình này. Hòa là đại chúng hòa thuận sống chung với nhau, bình là bình đẳng đối xử với nhau.

Cho nên, trong cái Thế Giới này của chúng ta các bậc Đại Thánh Đại Hiền Cổ Kim Trung Ngoại không ngừng đang kêu gọi hòa bình cho đến bây giờ vẫn không thể thực hiện được hòa bình. Chẳng những không thực hiện được, e sợ là cái thế gian này càng ngày càng không thái bình.

Chúng ta phải biết nguyên nhân ở tại đâu, vì sao chúng ta không thể hòa thuận sống chung với nhau. Nhân tố cơ bản tức là không bình đẳng. Không thể bình đẳng đối xử với nhau thì làm sao có thể thực hiện hòa bình. Cho nên, hai chữ  hòa bình này.

Hòa là quả, bình là nhân. Nếu mà bình đẳng đối xử với nhau thì tự nhiên có thể hòa thuận sống chung. Vì sao con người không bình đẳng, làm thế nào mới có thể đạt được bình đẳng.

Chúng ta đọc trong Kinh Phật biết được Thế Giới Tây Phương Cực Lạc là bình đẳng cho nên Tây Phương Cực Lạc mỗi người đều hòa thuận sống bình đẳng với nhau. Những người ở Tây Phương Cực Lạc không có cãi lộn đánh nhau, không có nghe nói qua. Hoa Tạng Thế Giới của Tỳ Lô Giá Na Như Lai cũng là bình đẳng lại nhìn xem chuyên viên của Islam Giáo là bình đẳng.

Thiên Đường của Thiên Chúa Giáo và Cơ Đốc Giáo cũng là bình đẳng, vì sao họ có thể bình đẳng hòa thuận đối xử với nhau nhưng chúng ta lại làm không được. Phật nói cho chúng ta biết trong lục đạo chúng sanh từ vô thỉ kiếp cho đến nay bị phiền não tập khí làm huân tập đã mê mất tự tánh.

Có một số đồng tu nói với tôi rằng:

Họ có xem qua tôi ở HongKong tiếp nhận đài truyền hình Á Châu phỏng vấn. Sướng ngôn viên Đài Truyền Hình Á Châu  là ông Hà Thủ Tính, ông đã nêu ra một vấn đề hỏi tôi, ông ta nói Mạnh Tử chủ trương tánh của con người là thiện tức là Nhân chi sơ tánh bản thiện, còn Tung Tử chủ trương tánh là ác tức là tánh vẫn là ác.

Ông ta nói ông ta đã mất mấy chục năm mà vẫn không hiểu rốt cuộc tánh của con người vốn là thiện hay là ác. Tôi bảo với ông ta rằng Mạnh Tử và Tung Tử đều là học trò không phải là Thầy. Kiến giải của Thầy mới là viên mãn. Thầy là Khổng Lão Phu Tử. Lời của Khổng Lão Phu Tử nói thì khác với họ.

Phu Tử nói:

Nhân chi sơ tánh tương cận, tập tương viễn, cùng với Phật Pháp nói như nhau. Tất cả chúng sanh chân tâm, bản tánh là tương đồng, là một cái tánh, cho nên, Phật nhìn tất cả chúng sanh đều là Chư Phật Như Lai. Trong Kinh Đại Thừa thường nói tất cả chúng sanh vốn là thành Phật. Đây là thật đấy không phải là giả.

Đức Phật vốn là thành Phật, Phật nhìn từ chỗ nào?

Phật nhìn từ bản tánh của bạn. Bản tánh của bạn cùng với bản tánh của Chư Phật Như Lai là cùng một tánh, không có khác biệt. Vì sao bây giờ bạn biến thành cái dáng như vậy. Vì Tập Tương Viên.

Tập là từ vô thỉ kiếp cho đến nay tiêm nhiễm thói quen tập khí. Trong tập khí có thiện có ác. Cho nên, tánh vốn thiện và tánh vốn ác của con người. Cái thiện ác đó là tập tánh không phải là bản tánh.

Bản tánh là thiện, cái thiện này không phải là cái thiện của thiện ác, cái thiện của thiện ác là tập tánh. Cái thiện này là lìa khỏi hai bên thiện ác là chân thiện, là cái thiện tuyệt đối không phải là tương đối. Nếu chúng ta có thể nhìn thấy cái điều này là bình đẳng thì tâm bình đẳng hiện ra. Người thiện ta rất tôn trọng họ, người ác ta cũng rất tôn trọng họ.

Người thiện ta ưa thích họ, người ác ta cũng ưa thích họ.  Người thiện ta giúp đỡ họ, người ác ta cũng giúp đỡ họ không có phân biệt.

Người ác làm việc ác ta có giúp đỡ hay không?

Không. Nếu họ làm việc ác ta không thể giúp đỡ họ, người ác làm việc thiện ta giúp đỡ họ.

Tiêu chuẩn thiện ác chỗ nào?

Nếu là vì mình thì là ác, vì xã hội vì đại chúng đây là thiện. Nếu người ác phát tâm vì xã hội làm việc vì đại chúng phục vụ đây là việc tốt, ta cũng phải giúp đỡ họ, tuyệt đối không có phân biệt. Do đây có thể biết thực sự muốn thực hiện tất cả chúng sanh hòa thuận sống chung với nhau nhất định phải tiếp nhận nền giáo dục đối xử bình đẳng của Bậc Thánh Hiền.

Chúng ta hãy mở rộng tầm mắt mà nhìn bậc Đại Thánh Đại Hiền Cổ Kim Trung Ngoại. Mỗi một vị sáng lập các Tôn Giáo. Mỗi một vị đều có đầy đủ trí huệ viên mãn. Các Ngài chỉ dạy cho tất cả Hữu Tình chúng sanh mở rộng tâm lượng, hiểu rõ chân tướng của Vũ Trụ Nhân Sanh. Trong Kinh Đại Thừa thường nói Chư Phật Bồ Tát không có hình tướng nhất định.

Tôi cũng thường hay nói như vậy. Lần này, chúng tôi ở Tân Thành đi tham quan một ngôi Chùa của Miến Điện, nhìn thấy những Tượng Phật điêu khắc đều là tôn tượng của Thích Ca Mâu Ni Phật. Có đến mấy chục Tôn Tượng đang chưng bày ở trong đó, mặt mũi đều khác nhau, nhìn kỹ mà xem có viết hàng chữ.

Tôn Tượng thứ nhất là Thích Ca Mâu Ni Phật hiện tướng Ấn Độ giống người Ấn Độ, lại xem tiếp những vị khác, có tượng giống Srilanca, có tượng giống người Nê Pan, có tượng giống người Trung Quốc, có tượng giống người Nhật Bản, có tượng giống người Thái Lan. Phật hiện tướng ở nơi nào thì mặt mũi giống như người của dân tộc đó.

Tôi liền bảo họ thâu hình, thâu hết tất cả Tượng Phật. Phật không có cái tướng nhất định. Phật ở nơi dân tộc nào thì hiện cái tướng của dân tộc đó. Phật ở nơi nước nào thì hiện cái tướng của chúng sanh nước đó, đặc biệt tỏ ra thân thiết. Phật cũng không có định pháp để nói.

Ngài dạy cho chúng ta những gì?

Là dạy cho chúng ta không nên phân biệt, không nên chấp trước.

Ngày nay, thói hư tật xấu của chúng ta ở tại đâu?

Chính là do phân biệt, vọng tưởng, chấp trước là phiền não không phải tự tánh. Trong tánh đức của tự tánh không có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, chỉ có trí huệ đức tướng, trí huệ viên mãn, đức năng viên mãn.

Ngày nay, chúng ta gọi cái năng lực này là vạn đức vạn năng. Tướng là tướng hảo, là y chánh trang nghiêm, trong tự tánh là có những thứ này. Thế nhưng trí huệ trong tự tánh của chúng ta đã biến thành phiền não. Đức năng của trong tự tánh đã biến thành thế trí biện thông.

Tướng hảo của trong tự tánh y báo và chánh báo bây giờ đã biến thành ô nhiễm là do nguyên nhân gì?

Nguyên nhân đều là do đã biến thành vọng tưởng, phân biệt chấp trước đã phá hoại tánh đức của chúng ta. Chúng ta có thể không biết điều này, không thể không hiểu rõ.

Do vậy, mới biết ngày nay chúng tôi, đặc biệt là hai năm nay chúng tôi chủ động đi phỏng vấn những Tôn Giáo khác, những chủng tộc khác. Ở Tân Gia Ba có chín Tôn Giáo khác nhau. Sự thành tựu của trong hai năm này làm cho chúng tôi cũng không ngờ được.

Chín Tôn Giáo ở Tân Gia Ba, mọi người đều đối xử với nhau như anh em, chị em vậy, thật là dung hòa thành một thể. Đó không phải là khả năng của chúng tôi, cũng không phải là trí huệ của chúng tôi mà chính là Chư Phật Bồ Tát gia trì và tất cả chúng thần của các Tôn Giáo gia trì, mới có được thành tựu như vậy.

Cùng với những Tôn Giáo khác mà có thể hợp tác, có thể hòa thuận sống chung với nhau, cùng nhau xây dựng một lý niệm đối xử bình đẳng. Tôi ở bên trong thúc đẩy.

Có rất nhiều người nói với tôi:

Pháp Sư Tịnh Không cái ý niệm của ông ở đâu mà có?

Đây không phải là tôi tưởng tượng, tôi không có nghĩ ra mà là do Thích Ca Mâu Ni Phật tại trong Kinh Hoa Nghiêm dạy cho chúng ta đó. Trong Kinh Hoa Nghiêm nói được rất cụ thể mà trong Kinh Giáo Đại Thừa cũng thường dạy như vậy.

Ngày nay, tôi nhìn thấy các đồng tu ở Malaysia, Quý Vị sùng bái đối với Quán Thế Âm Bồ Tát hình như có duyên phần rất đặc biệt. Tôi nhìn thấy đâu đâu cũng Tôn Thờ Quán Thế Âm Bồ Tát. Trong phẩm Phổ Môn Quán Thế Âm Bồ Tát nói được rất hay. Bồ Tát có ba hai ứng thân nên lấy thân gì để được độ thì Ngài liền lấy thân đó.

Bồ Tát không có thân tướng nhất định. Nếu Quý Vị nghĩ rằng Bồ Tát có thân tướng nhất định như vậy thì nhìn sai. Nên lấy thân Phật để được độ thì Bồ Tát liền hiện tướng Phật, nên lên thân Thanh Văn để được độ thì Ngài liền hiện tướng Thanh Văn. Vì vậy, chúng ta mới hiểu rõ nên lấy thân Cơ Đốc để được độ thì Ngài liền hiện thân tướng Cơ Đốc.

Cơ Đốc chính là Quán Thế Âm Bồ Tát. Nên lấy thân Thiên Chúa để được độ thì Ngài hiện thân Thiên Chúa. Thiên Chúa cũng là Quán Thế Âm Bồ Tát. Nên lấy thân A Hung để độ được thì Ngài hiện thân tướng A Hung. Islam cũng là Quán Thế Âm Bồ Tát.

Tôn Giáo nào mà không phải là Quán Thế Âm Bồ Tát, tất cả đều phải thì tâm chúng ta đã bình, thì liền sanh lòng cung kính nhất định không có khác biệt. Đây là sự thật không phải là giả. Tôi đem những điều này nói với lãnh tụ các Tôn Giáo nghe, họ cũng rất kinh ngạc. Tôi nói đó là bình đẳng.

Nếu từ trên quan điểm của bạn mà nhìn, bạn là một vị Cơ Đốc Giáo đồ, Thích Ca Mâu Ni Phật và Quán Thế Âm Bồ Tát đều là hóa thân của Thượng Đế vì bạn tôn kính Thượng Đế cho nên đều là hóa thân của Thượng Đế.

Từ Tôn Giáo đó của bạn, các giáo chủ của tất cả Tôn Giáo đều là hóa thành giáo chủ của Quý Vị. Là một không phải hai. Ai ai cũng là bậc nhất không có bậc nhì. Kinh Phật bậc nhất, Kinh Cổ Lam cũng là bậc nhất, Kinh Thánh cũng là bậc nhất, ai ai cũng là bậc nhất thì là bình đẳng, chúng ta mới có thể đối xử bình đẳng, hòa thuận với nhau.

Cho nên, chúng tôi sẽ bắt đầu từ tháng sáu năm nay, chúng tôi tiến thêm một bước lớn để nâng cao sự hợp tác lẫn nhau. Giảng đường của Cư Sĩ Lâm Phật Giáo Tân Gia Ba mỗi tuần thỉnh mời những vị giảng sư của các Tôn Giáo đến Phật Đường của chúng tôi để nói đạo, giảng đạo.

Chúng tôi sẽ giúp họ băng đĩa Video, làm thành đĩa VCD, tương lai đều sẽ biếu tặng cho mọi người. Bạn xem, bạn hãy xem chúng tôi có Tượng Phật, phía trước cũng có Tượng Phật, ngồi phía trên chính giữa là Mục Sư, là Cha Sứ, là A Hung. Họ đến vì chúng tôi giới thiệu Phật Giáo là nghĩa là Tôn Giáo của họ. Chúng tôi nghe rồi rất vui mừng.

Chúng tôi dự định có lẽ trong hai tháng sau, cũng có lẽ đến sang năm đem phương cách học tập của tất cả mọi người đổi thành phương cách tọa đàm. Mỗi người một tuần, chúng tôi có một chủ đề, hoặc là thảo luận hiện nay trong gia đình hoặc là vấn đề của thanh thiếu niên, vấn đề về giáo dục hoặc là bàn đến những vấn đề hút ma túy.

Chúng tôi cũng có thể đề ra một chuyên đề thỉnh những vị lãnh đạo của các Tôn Giáo. Mọi người ngồi lại với nhau đàm luận đem buổi tọa đàm này dùng Vệ Tinh truyền hình truyền bá khắp trên toàn Thế Giới để giáo hóa tất cả chúng sanh.

Vì sao lại có nhiều Tôn Giáo như thế?

Chúng ta nhất định phải hiểu rõ, vào thời xưa giao thông không có thuận tiện, ngành thông tin chưa phát triển, cho nên những chúng sanh đó sống trên Địa Cầu này, hai bên không có qua lại. Trạng huống thực sự là như vậy, hình thành rất nhiều những bộ lạc nhỏ.

Những Bậc Thánh Hiền muốn giáo hóa số quần chúng đó thì các Ngài phải hiện thân Thuyết Pháp cho nên ở mỗi một bộ lạc, mỗi một địa phương các Ngài nhất định phải tùy duyên, gọi là hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức cho nên mới sáng lập ra không đồng Tôn Giáo.

Không đồng học thuật, không đồng phương pháp dạy học, đều là do hoàn cảnh mà sanh ra. Đúng như trong Kinh Phật có nói. Đức Phật không có định pháp để nói mà do con người, do thời gian, do địa phương mà có khác biệt nên hiện những thân tướng không đồng, do đó mới có nhiều Tôn Giáo như vậy.

Thật ra, chỉ có một người ở nơi Tôn Giáo của bạn gọi là Thượng Đế, ở nơi Tôn Giáo của họ gọi là A La, ở nơi Kinh Điển của chúng ta gọi thì gọi là Phật Đà. Cái tên gọi tuy khác nhau nhưng là một người. Nếu bạn đã nhận biết rõ ràng thì là người một nhà, chỉ có một người không phải nhiều người.

Bởi vì chúng ta có tâm phân biệt nên không hiểu rõ ràng, đến khi nào bạn hiểu rõ thì mới hiểu được thì ra là một người, họ có rất nhiều tên gọi có rất nhiều thân phận không đồng. Thật ra chỉ có một người, làm thế nào mới có thể biết rõ ràng thì nhất định phải thâm nhập Kinh Điển. Phật tại trong Kinh thường chỉ dạy cho chúng ta thâm giải nghĩa cứu.

Trong Kinh Luận của mỗi một Tôn Giáo dùng cái phương pháp này cũng đều có được hiệu quả. Nhất định phải hiểu sâu, phải thâm nhập, sau đó mới phát hiện chúng thần trong tất cả các Tôn Giáo thì ra chỉ có một vị thần, thì ra đều là người một nhà. Do vì tự chúng ta nhận biết không được sâu cho nên mới sanh ra hiểu lầm, mới xảy ra chuyện xung đột, đó là sự sai lầm.

Mỗi một chủng tộc, phong tục tập quán của họ chúng ta phải tôn trọng, phải thương yêu, bảo hộ còn phải giúp cho họ phát dương quang đại, đây là văn hóa của toàn thể nhân loại. Nền văn hóa vốn là đa nguyên tuyệt đối không phải nhất nguyên.

Nhất nguyên nhất định là hành không thông tại vì sao?

Ví như cái thân thể của chúng ta, con mắt chúng ta là một chủng tộc, lỗ tai của chúng ta cũng là một chủng tộc, lỗ mũi là chủng tộc thứ ba, cái miệng là chủng tộc thứ tư, mỗi một khí quan là một chủng tộc đều khác nhau.

Nếu như bạn nói con mắt là chủng tộc của ta, ta là bậc nhất, lỗ tai bậc nhì, lỗ mũi bậc ba như vậy thì bậc nhất dĩ nhiên không có vấn đề, bậc nhì bậc ba thì liền sanh bệnh, thân thể con người không khỏe mạnh, nghiêm trọng thì sẽ mất mạng. xã hội là một cái chỉnh thể, mỗi một chủng tộc cũng là bậc nhất.

Cái thân thể này của ta khỏe mạnh là vì con mắt bậc nhất, tai nghe bậc nhất, mũi ngửi bậc nhất, mỗi một khí quan cũng là bậc nhất cái thân thể này khỏe mạnh.

Sống trên quả Địa Cầu này của chúng ta mỗi một Quốc Gia cũng là bậc nhất, mỗi một chủng tộc, mỗi một Tôn Giáo cũng là bậc nhất thì quả Địa Cầu này khỏe mạnh. Nếu chỉ có một Quốc Gia là bậc nhất còn các chủng tộc khác là bậc nhì thì xã hội sanh bệnh, mọi người chúng ta đều phải chịu tội, đều gặp phải tai nạn.

Do đây mới biết căn bản của hòa thuận, sống chung là ở nơi sự giáo dục, nhất định là sự giáo dục của Thánh Hiền. Dùng lời của Tôn Giáo mà nói là nên giáo dục của Thần Thánh không phải nên giáo dục của con người vì con người không có trí huệ, Thần có trí huệ, Phật có trí huệ.

Chúng ta nhất định phải tiếp nhận lời giáo dục của Thần Thánh. Tiếp nhận nền giáo dục của Thần Thánh thì cái vấn đề này mới có thể giải quyết được, mới có thể thực sự đạt đến Thế Giới hòa bình, xã hội an định, nhân dân hạnh phúc. Vì vậy, Phật dạy bảo cho chúng ta, Phật dạy thật là quá nhiều, Chúng tôi đem lời dạy của Đức Phật quy nạp thành năm cái khoa mục.

Vì sao phải từ Tam Phước?

Tam Phước giảng giải, chúng ta đọc trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Phật biết được, Phật nói ba điều này là Tịnh Nghiệp chánh nhân của ba đời Chư Phật, quá khứ, hiện tại, vị lai, phân lượng của câu nói này rất nặng.

Chúng ta biết tu học trong Phật Pháp khi đã là không có định pháp tức là có rất nhiều phương pháp gọi là có tám vạn bốn ngàn Pháp Môn, vô lượng Pháp Môn. Bạn nên biết rằng vô lượng Pháp Môn là bao gồm tất cả Tôn Giáo trong thế gian này, đều bao gồm tất cả Tôn Giáo.

Pháp Môn nào cũng có thể thành Phật, nhưng chúng ta nhất định phải hiểu rõ bất cứ một Pháp Môn nào đều phải lấy Tam Phước làm nền tảng, thì như chúng ta cất nhà vậy, như xây cất nhà lầu.

Xây mỗi một tầng lầu cũng đều khác nhau, cao thấp khác nhau, hình dáng khác nhau nhưng nền tảng là như nhau. Nhất định là phải xây lắp nền tảng, xây đắp nền tảng rất kiên cố. Tịnh Nghiệp Tam Phước là nền tảng, nền tảng là như nhau, chúng ta không thể sơ suất.

Vì sao chúng ta tu học không thể thành tựu?

Hãy xem Truyện Cao Tăng, hãy xem truyện Cư Sĩ. Những người thời xưa tu học ba năm, năm năm có người thì khai ngộ, có người thì chứng quả, có người thì được Thiền Định.

Vì sao ngày nay chúng ta học Phật đã học mấy chục năm rồi mà vẫn không có kết quả gì?

Cũng không có chắc chắn liễu sanh tử.

Cái nguyên nhân này là do ở tại đâu?

Cái nguyên nhân này là vì chúng ta không có xây đắp nền tảng, không có đắp nền móng. Cho nên, cất nhà chúng ta cất không thành, cất không xong thì bị sụp đổ rồi. Đó là cái khuyết điểm chung của những người hiện nay học Phật chúng ta. Cho nên, phải nhất định từ trên cái nền tảng này hạ công phu. 

Điều thứ nhất nền tảng của nền tảng là hiếu dưỡng Cha Mẹ, phụng thờ Sư Trưởng, lòng từ không sát, tu Thập Thiện Nghiệp.

Chúng ta có làm được hay không?

Đây là điều thứ nhất nếu mà làm không được thì điều thứ hai và điều thứ ba là trống không. Ba điều này cũng giống như xây cất nhà lầu ba tầng vậy, không có tầng thứ nhất thì làm gì có tầng thứ hai.

Tầng thứ hai là gì?

Là thọ trì Tam Quy. Chúng ta ở trước Tượng Phật Bồ Tát đã thọ Tam Quy là giả không phải thật, đã là không chung lầu các, không có vững bền. Tam Quy là xây dựng trên nền tảng của Hiếu Thân Tôn Sư và lòng từ Thập thiện.

Còn Đại Thừa Bồ Tát là xây dựng trên nền thứ hai:

Phát tâm Bồ Đề, tin sâu nhân quả, đọc tụng Kinh Đại Thừa, khuyến tấn người tu hành.

Tâm Bồ Đề của chúng ta phát không nổi, tại vì sao?

Vì không có xây dựng hai tầng trên. Cho nên, đã thọ Bồ Tát giới cũng là giả không phải là thật. Học Phật nhất định phải thực hành.

Chúng ta đã hiểu rõ Tam Phước, phải bắt đầu từ chỗ nào?

Phải bắt tay từ phước thứ nhất, nhất định phải hết lòng nỗ lực mà học tập. 

Phước thứ nhất, Phật tại trong Kinh Điển có dạy rất tường tận. Bộ Kinh này là Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, những người đọc Kinh Địa Tạng rất nhiều nhưng người thực sự y giáo phụng hành thì không có.

Cho nên đối với bộ Kinh Địa Tạng phải hiểu cho thật sâu, phải hiểu cho thật thấu triệt, rồi phải thực hành biến thành hành vi tư tưởng của mình thì nền tảng phước thứ nhất đã đắp xong. Sau khi có đủ Tam Phước thì mới bàn đến Lục Hòa. Tam Phước là đức hạnh của mình.

Trong Nhà Nho nói nghiên cứu các vật thành thật tâm chánh. Tu thân đến giai đoạn này, tu Tam Phước đến giai đoạn này.

Lục Hòa là cư xử với mọi người, trong Nhà Nho gọi là tề gia. Trong xã hội, gia đình là một đoàn thể nhỏ nhất là cơ sở của xã hội. Tổ chức nền tảng là gia đình.

gia đình không phải là một người, là một nhóm người có vợ chồng, Cha Mẹ, anh em, con cái sống chung với nhau. Có nhiều người như vậy thì nhất định phải hòa thuận, phải tu Lục Hòa Kính. Khi gia đình đều đã yên ổn thì mới trị nước, xã hội an định Quốc Gia giàu mạnh, Thế Giới hòa bình.

Cơ sở ở tại gia đình, nếu gia đình không hòa mà bàn xã hội an định, Thế Giới hòa bình đó chỉ là nói xuông mà thôi, chắc chắn không thể thực hiện được. Cho nên chúng ta không thể không coi trọng giáo dục gia đình. Nền tảng của sự giáo dục gia đình là cách tu dưỡng đức hạnh của cá nhân.

Nho và Phật đều rất có hệ thống đều có thể chỉ dạy cho chúng ta, chúng ta phải suy nghĩ cho kỹ, phải học tập như thế nào thì cuộc sống của chúng ta mới có thể rất hạnh phúc, rất mỹ mãn, rất vui sướng. Mục đích dạy học của Bậc Thánh Hiền là lìa khổ được vui.

Ý nghĩa của câu này sâu rộng vô tận, không những trong đời này cuộc sống của chúng ta rất vui sướng, đến đời sau còn vui sướng hơn đời này. Nếu như trái với lời dạy của Thánh Hiền thì tiền đồ của chúng ta là một bầu đen tối, cuộc sống trong đời này rất cực khổ đến đời sau còn đau khổ hơn đời này.

Nghiệp nhân quả báo đó là sự thật, nhất định là không giả. Thiện nhân, thiện quả. Ác nhân, ác báo. Trong tất cả các Tôn Giáo đều nói, đều khuyên bảo chúng ta đoạn ác tu thiện, phá mê khai ngộ, chuyển phàm thành Thánh, tự chúng ta phải giác ngộ những điều này, phải tranh lấy trong đời này, chúng ta nhất định có thể tranh lấy đạt được, đó là lời dạy chân thật, là sự lợi ích chân thật. Hạt nhân của gia đình là vợ chồng. Vợ chồng hòa hợp thì cái gia đình này hạnh phúc mỹ mãn. Cổ Nhân Trung Quốc có nói gia hòa vạn sự hưng.

Chúng ta nhìn cái gia đình này có tiền đồ hay không. Nhìn sự hưng suy của một gia đình, nhìn sự hưng vong của một Quốc Gia, nhìn từ chỗ nào, nhìn xem họ trên dưới có hòa thuận hay không. Dù nước có nhỏ trên dưới hòa thuận thì nước lớn không dám ăn hiếp họ. Dù nước có lớn đi nữa nội bộ trên dưới không hòa thuận thì vận nước của họ suy vong.

Cổ Nhân thường nói cái đạo lý, chúng ta nhìn thấy trong lịch sử bình đẳng, bình tĩnh mà xem xét cái thế gian này. Nhìn một gia đình, nhìn một hãng công ty, nhìn Quốc Gia họ có tiền đồ hay không, họ có phát triển hay không thì chúng ta rất rõ ràng, rất minh bạch.

Cho nên chúng tôi ở bên ngoài đặc biệt tuyên dương Phật Pháp đặc biệt coi trọng sự giáo dục của gia đình. Bởi vì gia đình là tổ chức nền tảng của cả xã hội, thì như thân thể của con người chúng ta, sự tổ chức cơ bản của thân thể là tế bào trong xã hội, gia đình thì như tế bào trong thân thể con người chúng ta vậy.

Cho nên, hiện nay chúng ta nhìn thấy rất nhiều Quốc Gia, địa phương, mức độ ly dị rất cao, thì chúng ta biết được cái vấn đề này rất nghiêm trọng, nghĩa là có rất nhiều tế bào trong thân thể đã hư hoại. Tế bào đã hư hoại thì mắc bệnh ung thư da, sẽ mất mạng. Trong xã hội gọi là động loạn, bất an.

Trong một số Tôn Giáo thì gọi là ngày Thế Giới tận thế, làm sao biết được ngày Thế Giới tận thế?

Hãy nhìn mức độ ly dị, nếu trong cái xã hội này mức độ ly dị cao hơn bốn mươi phần trăm thì ngày Thế Giới tận thế sẽ đến rất mau. Cũng như cái thân thể này vậy, tế bào da của bạn đã hư hoại tới bốn mươi phần thì mạng sống của bạn sẽ không được bao lâu, chỉ sống được vài ngày. Chúng ta, không thể không coi trọng vấn đề này, làm sao có thể cứu vãn gia đình, làm sao khuyên bảo những vợ chồng trong gia đình.

Lúc tôi giảng Kinh cũng thường hay nói khi Quý Vị chưa kết hôn thì đôi bên rất ưa thích, rất ân ái, lúc nào cũng nhìn thấy cái tốt của đối phương, không nhìn thấy khuyết điểm của đối phương. Dù có người nói khuyết điểm của đối phương bạn cũng không tin, thì thấy được tâm chân thành của bạn, bạn có thể bao dung.

Nhưng sau khi kết hôn thì là phiền phức, mỗi ngày cứ nhìn thấy khuyết điểm của đối phương thì xảy ra chuyện không hay. Làm thế nào vĩnh viễn duy trì cái chuyện nhìn thấy cái tốt của đối phương, không nhìn thấy khuyết điểm của đối phương. Phải nhìn cái tốt của đối phương, phải nhìn khuyết điểm của mình thì gia đình bạn vĩnh viễn hòa hợp.

Người tu hành càng phải nên làm gương. Bạn xem Đại Sư Lục Tổ Huệ Năng tại trong Đàn Kinh dạy cho chúng ta, người thật sự tu hành không nhìn thấy lỗi của người thế gian. Nếu con mắt không nhìn thấy lỗi thế gian thì con người này đã có vấn đề hoặc là mắc bệnh thần kinh.

Nên biết rằng Tổ Sư nói:

Không thấy lỗi thế gian là tuyệt đối không đem lỗi của người khác để trong tâm của mình, tuy đã nhìn thấy mà không để trong tâm. Chư Phật Bồ Tát Cổ Thánh Tiên Hiền đã chỉ dạy cho chúng ta ẩn ác, dương thiện. Tức là cái lỗi của người khác phải quên sạch sẽ rốt ráo, cái tốt của người khác còn phải thường hay khen ngợi. Như vậy, thì có thể mới cảm hóa được người khác, cảm hóa được xã hội.

Khi người khác đã làm sai một cái việc họ sẽ bị lương tâm cắn rứt, người khác biết được lỗi của ta mà không nói, họ còn tha thứ cho ta, ta làm một tí việc tốt họ còn tán thán. Khen ngợi thì đã phát hiện lương tâm. Giúp đỡ cho người ác sửa lỗi lầm làm lành thì công đức rất lớn.

Nếu thường hay quở trách người khác, sự quở trách quá đáng thì hiệu quả sẽ ngược lại. Tôi làm những việc tốt cũng không có ai khen ngợi, hễ làm việc xấu thì các ông rêu rao khắp nơi, để tôi làm thêm chuyện xấu để cho các ông xem. Đó là tác dụng ngược lại, cho nên họ không muốn làm việc tốt nữa.

Bạn hãy xem hiện nay trong báo chí, truyền hình, tạp chí đã đăng những tin tức, mỗi ngày đều đăng tin buồn không đăng tin mừng, đăng tin ác không đăng tin thiện.

Trong Kinh Lăng Nghiêm có nói:

Thời kỳ Mạt Pháp tức là hiện nay cái thời đại này của chúng ta tà sư Thuyết Pháp như cát Sông Hằng. Những ai là tà sư, những loại này toàn là tà sư. Trong tả truyện gọi là người bỏ cường đạo thì yêu ma hiện.

Yêu ma quỷ quái ở tại đâu?

Đâu đâu cũng có. Con người không tuân theo cường đạo đó chính là yêu ma quỷ quái.

Cái gì là cường đạo?

Là năm chữ: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Nhà Nho gọi là ngũ thườngBất nhân bất nghĩa không biết lễ, không giữ lòng tin, không có trí huệ chính là yêu ma quỷ quái.

Cho nên yêu ma quỷ quái ở tại đâu?

Cũng có thế suốt ngày chúng ở bên cạnh bạn, cũng có thể chính là bản thân của bạn. Không đọc sách Thánh Hiền thì không có khả năng phân biệt chân, vọng, tà, chánh, phải, quấy, thiện, ác.

Thậm chí lợi hại đến bản thân tự chúng ta cũng không biết, thật là quá ngu si. Cho nên con người không thể không tiếp nhận sự giáo dục. Chèo chống xã hội an định, Thế Giới hòa bình, nhân dân an lạc. Trên thực tế là nhờ bốn nền giáo dục đang tích cực hộ trì, chính trị làm không nổi.

Thích Ca Mâu Ni Phật cũng biết, bạn hãy xem những vị sáng lập của mỗi một Tôn Giáo, họ đều là bậc Đại Thánh Đại Hiền. Họ đều biết được Thích Ca Mâu Ni Phật có bối cảnh chính trị rất tốt nhưng Ngài đã xả bỏ, Ngài là Thái Tử, Ngài có thể kế thừa ngôi Vua. Ngài biết rõ chính trị không thể giải quyết được vấn đề này, nên Ngài đã xả bỏ, quân sự cũng không thể giải quyết được vấn đề này.

Chúng ta đọc trong Kinh Điển biết được, năm xưa Đức Thế Tôn còn trẻ, võ nghệ siêu quần, Ngài có thể làm tướng quân, có thể làm nguyên soái nhưng Ngài cũng đã xả bỏ, Ngài biết rõ không thể giải quyết được.

Hiện nay, kinh tế, khoa học kỹ thuật phát triển, chúng ta đã nhìn ra, nhìn thấy cũng không giải quyết được. Chỉ có một phương pháp có thể giải quyết được chính là dạy học. Cho nên, Đức Thế Tôn chọn lấy cái nghề nghiệp này. Dùng lời hiện nay mà nói cái nghề nghiệp này, tức là giáo dục xã hội của văn hóa đa nguyên.

Ngày nay, chúng ta dùng nhãn quan mà nhìn Thích Ca Mâu Ni Phật làm gì?

Ngài là người giáo dục văn hóa đa nguyên, công việc suốt đời của Ngài là người tình nguyện làm công việc giáo dục xã hội của văn hóa đa nguyên. Trong thế gian có rất nhiều người nói Phật Giáo là tiêu cực, đó là họ không biết, đó là họ vu oan cho người. Thích Ca Mâu Ni Phật, chọn lấy thân phận là vị Thầy, vị Thầy dĩ nhiên là phải vào lớp, là phải dạy học.

Mỗi ngày Đức Phật giảng Kinh tám tiếng đồng hồ, giảng suốt bốn chín năm chưa hề gián đoạn, đi đâu mà tìm một vị Thầy tốt như vậy?

Nếu bạn nói Ngài là tiêu cực đó thật là vu oan cho Ngài. Ngày nay, chúng ta sống trong cái xã hội này, chúng ta làm thân phận gì, chúng ta làm nghề nghiệp nào, chúng ta phải hết lòng nỗ lực làm hết bổn phận của mình.

Làm cho được tận thiện, tận mỹ, làm được hạng nhất, đó là tích cực, không phải tiêu cực. Thích Ca Mâu Ni Phật là tích cực nhất, trong lịch sử cũng không tìm được một người tích cực như Ngài vậy, tìm không ra.

Suốt đời vui lòng dạy học không hề mỏi mệt. Hữu giáo vô loại, tức là đối tượng dạy học của Ngài không phân Quốc Tịch, không phân chủng tộc, không phân Tôn Giáo, phàm là người chịu theo Ngài học thì Ngài hết lòng chỉ dạy cho học.

Ngài là một vị Thầy mô phạm cho nên Phật Pháp là Sư Đạo, Phật Pháp là giáo dục, Phật Pháp không phải là Tôn Giáo. Chúng ta xưng Thích Ca Mâu Ni Phật là Bổn Sư, Sư là Thầy, là vị Thầy căn bản, Thầy sáng lập nền giáo dục của Phật Đà. Chúng ta tự xưng là đệ tử của Phật, mối quan hệ của chúng ta và Phật là mối quan hệ Thầy trò.

Nhất định phải hiểu cho rõ ràng thì mới có thể học được Phật Pháp. Chúng ta phải hướng theo Thích Ca Mâu Ni Phật mà học tập. Ngài suốt đời không những là dùng ngôn giáo. Hiếm có nhất là dùng thân giáo, Ngài làm cái gương tốt cho chúng ta xem. Khi biết chỉ có sự giáo dục, sự giáo dục thâm hóa. Thâm là sâu xa, Hóa là cảm hóa.

Phải giúp cho xã hội phá mê, khai ngộ, đoạn ác, tu thiện, chuyển phàm thành Thánh, đó là ba cái mục tiêu dạy học của Ngài có ba giai đoạn. Chúng ta thực sự hiểu rõ minh bạch mới biết mối quan hệ của chúng ta cùng với tất cả các chúng sanh trong hư không Pháp Giới. Thật sự hiểu rõ minh bạch rồi thì tâm đại từ đại bi tự nhiên lưu lộ ra, thương người như thương ta.

Không phải thương nước như thương nhà mà là thương thiên hạ như thương nhà. Phạm vi tình thương còn lớn hơn Quốc Gia. Hư không Pháp Giới, tất cả Quốc Độ của Chư Phật là nhà, đó mới gọi là đại từ, đại bi thì Lục Hòa Kính được viên mãn.

Trong Lục Hòa Kính điều thứ nhất là cơ bản:

Kiến hòa đồng giải:

Chúng ta dùng lời hiện nay mà nói gọi là xây dựng ý thức chung, bạn thật sự đã nhận biết điều này là ý thức chung, là sự nhận biết cùng với tất cả Chư Phật không khác.

Là sự nhận biết cùng với các Thần Thánh, của tất cả Tôn Giáo không khác thì lòng thương bao la sẽ sanh ra. Đó là nhân từ bác ái của tự tánh lưu lộ ra, đó là cơ sở hòa thuận sống chung của chúng ta. Nếu không có điều này thì hòa thuận chỉ là trên hình thức không có rễ.

Không có gốc rễ chỉ có hình thì giống như bông cắm trong bình bông vậy, không có rễ, chỉ xem cho đẹp, vài ngày thì chết, nó không phải là sống. Nếu làm được điều thứ nhất thì nó có rễ, thì nó vĩnh viễn sống mãi.

Kiến hòa đồng giải là xây dựng trên nền giáo dục của văn hóa đa nguyên. Hết thảy nền giáo dục văn hóa đa nguyên đều là của tất cả Tôn Giáo. Không những là nền giáo dục xã hội văn hóa đa nguyên của Phật Pháp, bất luận Tôn Giáo nào cũng như nhau, đích thực là bình đẳng.

Chúng ta học Phật nếu không thể nhìn thấy rõ ràng cái sự thật này vậy thì bạn tu học không dễ dàng thâm nhập, phải bắt đầu tu học từ chỗ nào?

Điều thứ hai của Lục Hòa Kính là:

Giới hòa đồng tu. Chữ Giới này là nghĩa rộng, không phải là nghĩa hẹp. Chữ giới này là nói quy củ, quy củ cũng không nhất định gọi là nhập cảnh tùy tục. Ngày nay, chúng ta đến Malaysia, cái Quốc Gia này chúng ta phải tuân theo hiến Pháp Quốc Gia của Malaysia. Chúng ta phải tuân theo pháp luật, qui tắc, điều lệ của Malaysia.

Nhưng từng phong tục, tập quán của địa phương này đều phải tuân theo mọi thứ thì mới có thể được đại chúng bên này hoan nghênh. Nếu bạn không thể tuân theo thì bạn không thể cùng nhau sinh sống với nhân dân của nước này.

Cho nên, bất luận ở Quốc Gia nào, hoặc ở địa phương nào nếu bạn hiểu được tuân theo pháp luật, qui tắc, điều lệ, phong tục, tập quán của nước đó thì bạn mới có thể cùng xã hội đó hòa thuận sống chung với nhau, bạn hãy xem hai điều này rất quan trọng. Một điều lý luận kiến giải, một điều là nhất định là phải tuân theo phép tắc. Cho nên, giới hòa đồng tu trong Lục Hòa Kính là nghĩa rộng không phải nghĩa hẹp.

Kế đến là:

Thân hòa đồng trụ. Chúng ta cùng cư ngụ sống trong khu vực này gọi là đồng trụ.

Điều thứ tư là Khẩu hòa vô tranh, nhất định phải tránh khỏi tất cả sự tranh luận. Có thể biện luận nhưng không thể tranh luận. Biện luận là nói lý, càng nói thì lý càng rõ ràng không nên tranh chấp. Trong tranh chấp thì dùng cảm tình làm việc, biện luận là thuộc về trí huệ là thuộc về lý trí. Tranh luận thuộc về cảm tình gọi là khẩu hòa vô tranh.

Điều thứ năm là ý hòa đồng duyệt mọi người chúng ta cùng sinh sống với nhau rất là vui vẻ, trong nhà Phật gọi là thường sanh tâm hoan hỷ và Pháp Hỷ sung mãn, tức là lúc mọi người cùng sống chung với nhau rất là hoan hỷ vui sướng.

Điều thứ sáu là Lời hòa đồng quân, cái gì là lợi tức là ngày nay gọi là cuộc sống vật chất và cuộc sống tinh thần phải bình đẳng. bình đẳng trên sinh hoạt thì làm không được.

Tại vì sao?

Vì nghiệp báo của mỗi người khác nhau thì làm sao mà bình đẳng nên Phật dạy cho chúng ta tu bình đẳng. Người giàu có phải giúp cho người nghèo khổ thì là bình đẳng, người bần cùng phải kính trọng người giàu sang, người giàu sang phải tiếp tế cho người bần cùng thì là bình đẳng rồi, đó là Phật chỉ dạy cho chúng ta.

Hiện nay, mọi người trong xã hội phổ biến nhất là kiếm tiền. Trong đầu óc đều nghĩ làm thế nào để kiếm tiền.

Có thể kiếm được tiền hay sao?

Nếu có thể kiếm được tiền thì xin thưa với Quý Vị thì tôi không đi học Phật, tôi chuyên môn đi học kiếm tiền. Kiếm không được, vì sao kiếm không được, vì trong mạng không có. Người ta phát đại tài, làm ăn lớn buôn bán lớn.

Còn trong mạng của ta không có tài, họ đem việc làm ăn buôn bán giao cho ta hết, ta làm không tới một tháng thì thất bại bị phá sản, là nguyên nhân gì?

Vì trong mạng không có tài, phải hiểu được điều này. Giàu sang ở trong mạng có tài, muốn bỏ cũng không bỏ được. Trong mạng không có tài lại nghĩ ra phương pháp kiếm tiền cũng kiếm không được. Bạn đi trộm cắp, trộm được cũng là trong mạng của bạn có. Nếu trong mạng của bạn không có thì nhất định là không được. Trong mạng của ta không có, khi chưa trộm được thì là đã bị cảnh sát bắt đi rồi.

Vì trong mạng có cho nên kể cả trộm được, giật được đều là trong mạng có, bạn nghĩ xem có oan uổng không?

Bạn không trộm không giật chỉ là chậm hai ngày có được. Trộm giật thì sớm được hai ngày đều là trong mạng có. Cổ Nhân thường nói Quân Tử vui được làm Quân Tử, tiểu nhân oan uổng được làm tiểu nhân. Hai câu này nói rất có đạo lý, nói được rất sâu sắc.

Nếu trong mạng có tài, bất luận bạn làm nghề nghiệp nào, cái nghề nghiệp đó là có duyên. Nhân có duyên thì quả báo hiện tiền, là do trong đời quá khứ tu nhân.

Cái nhân của giàu có là gì?

Là tài bố thí. Bạn không tu tài bố thí thì làm sao bạn có tài. Quả báo được thông minh, trí huệ là do pháp bố thí. Tu pháp bố thí thì được thông minh, trí huệ. Quả báo được khỏe mạnh, sống lâu thì Phật dạy cho chúng ta phải tu vô úy bố thí.

Cái gì gọi là vô úy bố thí?

Tức là tất cả chúng sanh khi nhìn thấy bạn thì vui mừng, không sợ bạn gọi là vô úy. Trong Tam Phước, điều thứ nhất là lòng từ không sát, bạn không giết chúng sanh không làm hại chúng sanh, thì chúng sanh nhìn thấy bạn đều sanh lòng vui mừng.

Quả báo của bạn là khỏe mạnh, sống lâu. Nhân như thế nào thì nhất định quả như thế đó. Không tu nhân mà mong cầu quả báo, không có chuyện tốt như vậy. Cho nên chúng ta mong cầu giàu có, thông minh, trí huệ, khỏe mạnh, sống lâu thì bạn nhất định phải tu tài bố thí, pháp bố thí, vô úy bố thí.

Con người tôi lúc còn trẻ không có phước báu đã bần lại tiện. Bần là không có tiền của, tiện là không có địa vị vả lạ mạng sống ngắn ngủi. Rất nhiều người xem tướng bói mạng tôi chết non, tôi tin tưởng. Năm hai sáu tuổi tôi gặp được Phật Pháp. Cho nên, tôi phải hiểu rõ minh bạch những đạo lý này rồi sau đó hoàn toàn sửa đổi lỗi, những thói hư tật xấu trước kia.

Tôi học Phật, quyển sách đầu tiên là Liễu Phàm Tứ Huấn. Lúc đó lão Cư Sĩ Chu Kính Vũ tặng cho tôi. Tôi đã xem mấy chục lần, tôi rất cảm động, những thói hư tật xấu năm xưa của Viên Liễu Phàm tôi hoàn toàn có hết, cũng đều đã phạm.

Phước báu của ông ta lớn tôi không sánh bằng, phải làm sao đây?

Đây cũng là một cảnh giác rất lớn cho tôi. Sau khi đọc xong trong tâm phản tỉnh hồi đầu. Gặp được Phật Pháp thì mới thực sự là được cứu, tôi thực sự đã hồi đầu, tôi chọn cái nghề nghiệp này là do Đại Sư Chương Gia thay tôi quyết định. Ngài khuyên bảo tôi đi Xuất Gia Hoằng Pháp lợi sanh. Ngài thay tôi quyết định.

Sau khi tôi đã quyết định Xuất Gia tôi bèn hỏi:

Ngài bảo con Xuất Gia, phải đến nơi nào Xuất Gia, thì Ngài bảo với tôi rằng:

Con không nên đi tìm Pháp Sư, không nên đi tìm Đạo Tràng.

Tôi hỏi vậy thì đến nơi nào để thế độ?

Ngài nói nếu con đi tìm Pháp Sư nhưng nếu vị Pháp Sư đó không nhận lời thì con sẽ sanh phiền não. Tôi trả lời đúng vậy, nếu tôi đi tìm Pháp Sư thế độ mà họ không chịu thế độ cho tôi, không chịu nhận tôi làm đồ đệ thì nhất định là tôi sẽ sanh phiền não. Đại Sư Chương Gia nói rất đúng.

Vậy thì phải làm sao đây?

Ngài nói:

Phải nên cầu Phật Bồ Tát, cầu cảm ứng, cái phương pháp này tuyệt diệu không thể tả. Ngài nói tại trong cửa Phật có cầu thì ứng, dùng tâm chân thành mà cầu tất liền cảm ứng. Đoạn khai thị này là ảnh hưởng cả đời tôi, cho nên tôi liền cầu nguyện ở trước Tượng Phật Bồ Tát.

Quả nhiên, mấy năm sau thì sự cảm ứng hiện tiền. Vị Pháp Sư đó đến thỉnh tôi Xuất Gia. Trong khoảng một tháng rưỡi, Pháp Sư đó sai người đến thỉnh tôi chín lần, tôi thấy tâm của Pháp Sư đó rất chân thành thì tôi mới nhận lời của Pháp Sư. Thầy dạy tôi nay đã ứng nghiệm. Tôi đi thọ giới cũng là cầu nguyện ở trước Phật và Bồ Tát. Khi thời tiết nhân duyên đến thì có người đến thỉnh mời tôi.

Cả đời tôi đều bị động mà không làm chủ động. Chúng ta phải thành tâm thành ý mà cầu. Đức Phật dạy là tại trong cửa Phật có cầu thì ứng, chúng ta nhất định phải dùng tâm chân thành mà cầu, tuyệt đối không dùng vì cá nhân. Phải vì Chánh Pháp trụ lâu ở thế gian, phải vì Hoằng Pháp lợi sanh giúp cho mọi người.

Trong đời này tôi không có Đạo Tràng, ở Đạo Tràng của người khác, tại vì sao?

Vì Thích Ca Mâu Ni Phật cũng không có Đạo Tràng. Suốt đời Thích Ca Mâu Ni Phật đều ở Đạo Tràng của người khác. Tôi ở trong ngôi học hội này chỉ cần quyền sử dụng không cần quyền sở hữu.

Quyền sở hữu là của ông chủ, điều này rất vui sướng, không có gánh vác một tí nào. Tôi cũng không cần tu sửa nhà cửa, cũng không cần quản lý, suốt đời sống được vô cùng vui sướng. Cái gì cũng không cần nhưng cũng không thiếu cái gì, đó là Phật dạy cho tôi. Chúng tôi y giáo phụng hành thì có thể chứng được.

Nhà Phật gọi là Tín, Giải, Hành, Chứng thì có thể chứng được, có thể hoạch được. Được sự lợi ích này, chia sẻ cho tất cả đại chúng cộng hưởng, tuyệt đối tự mình không thể độc hưởng. Đặc biệt là tiền tài. Tài và pháp đều cùng với đại chúng cộng hưởng.

Tại vì sao?

Vì bỏn sẻn tương lai quá báo là bần cùng. Lận pháp quả báo là ngu si. Chúng ta không muốn bần cùng cũng không muốn ngu si vậy thì nhất định phải tu bố thí. Rất nhiều vị đồng tu, kể cả lão Pháp Sư trước kia.

Pháp Sư Diễn Bồi cùng với tôi rất thân thiết, những vị bậc trên hoặc đồng vai với tôi, họ cùng cảm phục nói rằng  kết pháp duyên của Pháp Sư Tịnh Không rất tốt, mọi người đều sánh không bằng.

pháp duyên từ đâu mà có là do bố thí, phải cùng với tất cả chúng sanh rộng kết pháp duyên. Tứ chúng đồng tu cúng dường tiền cho tôi, nếu tôi không đem bố thí thì bây giờ xây cất một ngôi Chùa lớn không thành vấn đề. Cũng có thể xây cất ngôi Chùa rất lớn, nhưng tôi lại suy nghĩ đem tiền cất Chùa tức là đem tiền chôn xuống dưới đất, thật là đáng tiếc không có hữu dụng.

Cho nên, không bằng đem tiền đi in Kinh Sách, làm băng đĩa Casset, đĩa Video lưu thông khắp nơi kết pháp duyên với mọi người. Cái phương Pháp này rất hay, cho nên có rất nhiều Đạo Tràng họ rất hoan nghênh tôi đến Đạo Tràng đó giảng Kinh.

Tôi đối với tất cả Đạo Tràng nhất định là khen ngợi, ủng hộ. Tôi cùng với họ không có lợi hại, xung đột vì bản thân tôi không có Đạo Tràng. Tôi nhất định là khen ngợi Đạo Tràng, khen ngợi Pháp Sư, khen ngợi tín đồ, khen ngợi họ tu Pháp Môn đó.

Trong khi tôi đang Hoằng Pháp được tất cả mọi người cúng dường, tôi không biết có bao nhiêu tiền, bởi vì tôi không bao giờ mở phong bì đỏ ra xem có bao nhiêu tiền. Toàn bộ đều giao cho Đạo Tràng, không nhận một đồng xu nào. Cho nên, Đạo Tràng rất thích tôi, thích tôi đến giảng Kinh.

Nếu như tôi đến Đạo Tràng của họ, tiền cúng dường của tín đồ tôi liền mang đi hết. Tín đồ Quy Y tôi cũng lôi đi hết thì ngôi Đạo Tràng đó họ cũng lo vị Pháp Sư này rất ghê gớm, lần sau không thỉnh ông ta đến, thỉnh ông ta đến thì chúng ta bị tổn thất quá lớn.

Cho nên, mục tiêu của chúng tôi rất rõ ràng, suốt đời đi đến nơi nào cũng làm khách, tuyệt đối không làm chủ. Làm khách thì cuộc sống được thoải mái, đi đến đâu cũng có người ân cần tiếp đãi mình. Chủ nhân thì rất phiền phức và rất bận rộn không vui sướng. Đó là lợi hòa đồng quân.

Cho nên Phật dạy cho chúng ta Lục Hòa Kính, quan trọng nhất là chữ kính. Kính người, kính việc, kính vật thì chúng ta trong đời này thọ dụng vô cùng vui sướng. Ấy là tự mình đi tìm, tự bạn đã hiểu rồi thì cuộc sống của bạn nhìn thấu, buông xuống, tự tại, tùy duyên, thật là vui sướng.

Chúng tôi hy vọng mỗi một vị đồng tu đều phải khéo học, đều biết tu học thì bạn sẽ đạt được thật sự tự tại. Lúc tôi đang giảng Kinh thường nói sự tu học của Pháp Đại Thừa thực sự có thể đạt được không già, không bệnh, không chết.

Điều này còn quan trọng hơn tiền tài, của cải, ai ai cũng muốn trẻ mãi không già. Mỗi ngày con người trong cuộc sống vui sướng, không có một chút nào buồn rầu lo lắng thì họ nhất định không sanh bệnh.

Do đâu mà có sanh bệnh?

Trong tâm bạn có buồn rầu, lo lắng thì bạn sẽ mau già yếu thì bạn sẽ mau sanh bệnh. Bạn phải buông xuống tất cả phiền não, buồn rầu, lo lắng thì bạn sẽ không sanh bệnh, vĩnh viễn sẽ không già yếu.

Ở Tân Gia Ba có một vị đã nêu gương tốt, đó là một vị Cư Sĩ Hứa Triết. Năm nay, bà một trăm lẻ một tuổi, bà sanh năm một nghìn chín trăm. Chúng tôi đi thăm viếng bà, nhìn thấy trạng thái, thân thể của bà khoảng chừng với những người ba bốn chục tuổi không khác.

Một trăm tuổi bà chưa hề sanh bệnh. Tôi tỉ mỉ mà quan sát bà, bà chỉ mất một cái răng, bà không đi gắn răng giả, chỉ rụng mất một cái răng, còn tai mắt thì thông minh, đầu óc phản ứng rất nhanh, thân thể khỏe mạnh, có thể ở trên cái Đài này nhảy xuống cũng không sao. Đúng là bà làm gương cho chúng ta.

Nếu mà hỏi bà làm sao bà được khỏe mạnh như vậy?

Vì bà suốt đời không có sanh phiền não, suốt đời không có nghĩ cá nhân mình, suốt đời không có khởi tâm động niệm. Suốt đời bà đều nghĩ đến những người bệnh, người già, người nghèo khổ và những người không nơi nương tựa. Bà nghĩ đến việc này, mỗi ngày bà đi chăm sóc cho họ, mãi cho đến bây giờ, nếu không có hẹn trước thì tìm không có được bà.

Mỗi ngày bà đi giúp cho những người nghèo khổ, đi gánh gạo, mua rau cải biếu cho họ, bà thật là rất hiếm có. Giúp đỡ người là vui sướng nhất, cho nên cuộc sống của bà vô cùng khoái lạc.

Trước khi bà chưa Quy Y, bà là một tu nữ, bà là một lão tu nữ, trước kia đã từng xây dựng mười mấy ngôi viện dưỡng lão. Bà suốt đời chăm sóc người già gọi là vô úy bố thí, cho nên bà được quả báo là khỏe mạnh, sống lâu.

Cư Sĩ Lý Mộc Nguyên hỏi bà còn muốn làm việc gì bà nói:

Còn muốn xây dựng Viện dưỡng lão, nhưng Chính Phủ không đồng ý cho bà làm vì bà đã một trăm tuổi không thể xây dựng viện dưỡng lão. Đó là ba thứ bố thí được ba thứ quả báo vô cùng rõ rệt.

Kế tiếp là Lục Ba La Mật:

Đây là Phật chỉ dạy cho cá nhân chúng ta cách sinh sống như thế nào, đối xử với người, với vật như thế nào. Có sáu điều nguyên tắc, bạn có thể tuân theo mà không trái nghịch thì trong Phật Pháp gọi bạn là Bồ Tát. Sáu điều này là hạnh Bồ Tát.

Điều thứ nhất là bố thí:

Ở đây nói bố thí là khác với ý nghĩa bố thí ở phía trước, phạm vi của nó rất sâu, rất rộng. Đơn giản mà nói tức là phục vụ cho chúng sanh, phải phát cái tâm này. Con người chúng ta sống trong cái thế gian này không vì cá nhân mình, phải vì chúng sanh. Nếu vì cá nhân mình là phàm phu, vì chúng sanh là Bồ Tát.

Trong Kinh Kim Cang nói được rất hay:

Nếu Bồ Tát có ngã tướng, có nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng tức chẳng phải Bồ Tát. Cho thấy bậc Bồ Tát không vì cá nhân mình. Cái đầu tiên là không có ngã tướng. Dùng lời hiện nay đơn giản nhất mà nói tuyệt đối không có ý niệm tự tư lợi. Nếu như khởi tâm động niệm mà còn có tự tư tự lợi tức chắc phải Bồ Tát đó là hạng phàm phu.

Trước kia, chúng tôi nghĩ rằng có lẽ hàng Nhị Thừa vẫn còn ngã tướng đây là Tiểu Thừa. Sau khi chúng tôi đọc xong Kinh Kim Cang mới biết Tiểu Thừa cũng không có tự tư lợi. Trong Kinh Kim Cang nói cho chúng ta rất rõ ràng, bậc Tu Đà Hoàn.

Đây là chứng Sơ Quả Tiểu Thừa cũng không có nghĩ rằng chứng được quả Tu Đà Hoàn. Đây tức là lìa tướng. Họ chứng được quả Tu Đà Hoàn nhưng họ cũng không nghĩ rằng ta đã chứng được quả Tu Đà Hoàn. Họ không có ý niệm này.

Nếu họ còn ý niệm này thì họ chưa chứng quả. Đây tức là nói rõ chứng được Sơ Quả Tiểu Thừa thì họ hoàn toàn đã buông xuống tự tư tự lợi, đó mới gọi là chân thật bố thí. Khởi tâm động niệm đều là nghĩ tới tất cả chúng sanh. Chúng sanh yêu cầu cái gì thì chúng ta phải tận tâm tận lực giúp đỡ cho họ cái đó.

Chúng sanh có khổ nạn, căn nguyên của khổ nạn là vì không hiểu rõ chân tướng của Vũ Trụ nhân sanh. Đó mới là căn nguyên, hay nói cách khác mối quan hệ giữa người với người. Mối quan hệ thực sự giữa người với người, họ không hiểu rõ. Mối quan hệ giữa con người với hoàn cảnh thiên nhiên họ cũng không hiểu rõ cho nên họ phá hoại sự cân bằng sinh thái của hoàn cảnh.

Họ không biết mối quan hệ giữa con người và Thiên Địa Quỷ Thần. Mối quan hệ giữa con người và Thiên Địa Quỷ Thần rõ rệt nhất là xung đột Tôn Giáo. Đây là họ không hiểu rõ mối quan hệ giữa con  người và Thiên Địa Quỷ Thần.

Vì vậy, chúng ta đã biết ngày nay cái quan trọng nhất là phải chỉ dạy cho đại chúng cho xã hội như thế nào?

Chỉ dạy cho mọi người hiểu biết rõ ràng ba mối quan hệ này, đây chính là nền giáo dục của văn hóa đa nguyên. Chúng ta phải ở trên ba mối quan hệ này mà phục vụ cống hiến cho mọi người.

Xả kỷ vị nhân. Ở nơi thân phận cá nhân của chúng ta thì phải tích cực gánh vác công việc dạy học cho xã hội đa nguyên. Vả lại không những chúng ta phải dạy, mà còn phải nêu gương. Chúng ta phải thực sự thực hành đoàn kết Tôn Giáo, đoàn kết chủng tộc. Tôn Giáo và chủng tộc mà có thể đoàn kết, thì xã hội tự nhiên an định mới có hy vọng Thế Giới hòa bình. Đó là điều bố thí trong Lục Độ Ba La Mật.

Trong Lục Độ điều thứ hai là trì giới. Ý nghĩa cũng rất rộng. Không những Thập Thiện Nghiệp Đạo cơ bản giới điều của Phật Giáo chúng ta. Thập Thiện và Ngũ Giới là Phật dạy căn bản tu học cho chúng ta.

Nhất định phải làm cho được rất viên mãn như những lời dạy quan trọng trong Kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo. Phật dạy Bồ Tát có một pháp có thể lìa tất cả thống khổ trong thế gian. Tất cả thống khổ trong thế gian là lục đạo luân hồi lại mở rộng thêm tức là thập Pháp Giới.

Bồ Tát có một pháp có thể lìa tất cả thống khổ trong lục đạo thập Pháp Giới đó là pháp gì?

Là ngày đêm thường nhớ thiện pháp tức là tâm của bạn thiện. Tư duy thiện pháp là tư tưởng của bạn thiện. Quán sát thiện pháp, tức là hành vi của bạn thiện. Làm con người nhất định phải tâm thiện, ý niệm thiện, hành vi thiện. Phía sau còn thêm một câu không để cho tơ hào bất thiện xen tạp.

Bạn thường nhớ như vậy thì thiện nghiệp viên mãn. Trong Nhà Nho gọi là chỉ ư chí thiện tức là thuần thiện. Đoạn này vô cùng quan trọng, con người chúng ta vì sao cứ nghĩ chuyện ác. Quý Vị phải hiểu mỗi ngày cứ nghĩ chuyện xấu, thì con người sẽ sanh bệnh.

Bệnh từ đâu mà có?

Bệnh là do suy nghĩ lung tung mà có, nếu bạn thường nghĩ thiện thì bạn không bao giờ sanh bệnh. Bạn sanh bệnh tức là tâm bạn nghĩ lung tung tức là bạn nghĩ chuyện xấu. Lời của Phật nói không sai, đây gọi là Trì Giới trong Lục Độ.

Dĩ nhiên đây là bao gồm tất cả pháp luật, qui tắc, điều lệ của thế gian, cho nên bao gồm cả phong tục tập quán đơn giản mà nói Trì Giới tức là tuân theo phép tắc. Phải tuân theo lời dạy của Cổ Thánh Tiên Hiền, phải tuân theo sự chỉ dạy của Thầy. Những phương cách sinh sống của đại chúng, xã hội chúng ta phải tôn trọng, phải tuân theo.

Điều thứ ba là Nhẫn Nhục:

Nhẫn Nhục tức là nhẫn nại, phải có tâm nhẫn nại. Bất luận là đối xử với người, với việc, với vật đều có tâm nhẫn nại. Nhẫn nhục chữ nhục này là vào thời xưa các Pháp Sư dịch Kinh, đặc biệt vì người Trung Quốc chọn dịch cái danh từ này.

Hai chữ vốn là nhẫn nại, vì sao chúng ta gọi là Nhẫn Nhục?

Vào thời xưa người Trung Quốc đối với nhục họ coi rất nặng, gọi là thà là chết không chịu nhục, cũng tức là chặt đầu có thể nhẫn, làm nhục không thể nhẫn. Xem chữ nhục này nặng như vậy nên Pháp Sư dịch nhẫn nhục là nhục cũng phải nhẫn. Vậy thì có cái gì mà không thể nhẫn được. Cho nên cái danh từ Nhẫn Nhục này đặc biệt là đó.

Đối với Trung Quốc mà nói chúng ta phải hiểu cái đạo lý này. Cho nên, trong hoàn cảnh hiện thực nếu có người hủy báng chúng ta, làm nhục chúng ta, thậm chí hãm hại chúng ta. Chúng ta cũng phải nhẫn chịu, tuyệt đối không thể có ý niệm báo thù.

Tại vì sao?

Thì tương lai quả báo là oan oan tương báo, chưa hết chưa xong, họ làm nhục ta hãm hại ta mà ta vẫn nhẫn chịu thì món nợ của chúng ta mới có thể trả xong.

Cho nên oan gia nên giải không nên kết. Phải hiểu cái đạo lý này, phải hiểu rõ chân lý sự thật. Họ hủy báng ta vì tại sao họ không hủy báng người khác. Phàm là việc gì đều có nhân quả. Ta biết họ làm nhục ta, hủy báng ta họ hãm hại ta là trong đời quá khứ nhất định có nhân. Trong đời quá khứ ta làm nhục họ ta làm hại họ nay trong đời nay lại gặp lại nhau, họ lại đến báo thù là đương nhiên.

Nhất định phải nhẫn chịu thì món nợ này của ta đã trả xong, lần sau gặp mặt thì là bạn tốt có thể hợp tác lẫn nhau. Tuyệt đối không phải oan oan tương báo, đây là bí quyết hóa giải tai nạn, là bí quyết hóa giải oán thù. Nhà Nho gọi là Nhân Giả vô địch.

Nhân là người có lòng nhân từ. Nhân từ bác ái trong tâm họ tuyệt đối không có oan gia đối đầu. Nếu trong tâm họ còn có thói bất bình với người khác, còn có lòng sân hận với người khác, còn có lòng bất mãn với người khác thì bạn không phải là người nhân từ.

Trong nhà Phật nói bạn không phải là Bồ Tát, nếu bạn là Bồ Tát chỉ có thương người, tuyệt đối không có giận người cho dù người khác có hãm hại bạn. Trong Kinh Kim Cang Phật có nêu ra thí dụ, nói Nhẫn Nhục Tiên Nhân là Bồ Tát, Vua Ca Lợi cắt xẻn thân thể, túc là hiện nay gọi cắt xẻo thân thể là lăng trì xử tử.

Cái hình phạt này rất là tàn ác tức là dùng con dao nhỏ cắt từng miếng, từng miếng thịt của bạn cho đến khi bạn chết, không phải để cho bạn chết một cách mau chóng mà là dày vò bạn cho đến chết. Tâm của Nhẫn Nhục Tiên Nhân không có một tí oán hận, Ngài đã thành tựu Nhẫn Nhục Ba La Mật.

Bồ Tát chẳng những không giận Vua Ca Lợi mà còn cảm kích Vua Ca Lợi. Vì sao Ngài lại cảm kích Vua Ca lợi?

Nếu không có Vua Ca Lợi dùng đối xử hình phạt này  đối với Ngài thì làm sao mới có thể khảo nghiệm được công phu Nhẫn Nhục Ba La Mật của Ngài. Cho nên Ngài không giận Nhà Vua mà còn rất cảm kích Nhà Vua.

Trải qua cái cảm kích này thì tu Nhẫn Nhục Ba La Mật đã viên mãn, đã tốt nghiệp cái khoa mục này. Quý Vị tu Bồ Tát đạo tương lai cũng phải trải qua ải này. Bạn nên biết rằng nếu bạn không nhẫn nhục thì bạn chưa có tốt nghiệp Bồ Tát đạo.

Cho nên, trong cuộc sống hàng ngày đều phải nhẫn nhục tất cả. Đặc biệt là xã hội ngày nay, làm thế nào để cứu vãn cái xã hội này, nhất định phải làm cái gương tốt cho mọi người xem.

Vấn đề của xã hội ngày nay rất là nghiêm trọng, phổ biến nhất là tranh danh, đoạt lợi, buông tuồng tình dục. Tám chữ này là miêu tả toàn cái Thế Giới ngày nay, thật là ghê gớm.

Năm xưa thầy Mạnh Tử có cảm thán rằng:

Vua Lương Huệ hỏi Ngài, Thầy đến gặp tôi, đối với nước tôi có những lợi ích gì?

Thầy Mạnh Tử nói được rất hay thương hạ giao chưng lợi nghiêm quốc nguy hỷ, nghĩa là cái Quốc Gia này của bạn, bạn là một cái gương. Mở miệng nói thì nói là sanh lợi, tranh danh đoạt lợi thì nhân dân của bạn cũng là tranh danh đoạt lợi.

Toàn quốc của bạn cũng tranh danh đoạt lợi thì vận nước của bạn sẽ nguy hiểm. Làm thế nào dạy cho cái Quốc Gia này an định, giàu mạnh chỉ có dùng nhân nghĩa giáo hóa. Bạn phải hành nhân đạo, phải hành đạo nghĩa thì mới cứu được đại nạn Quốc Gia nguy vong.

Ngày nay trên toàn Thế Giới đang tranh danh đoạt lợi, thì Thế Giới nguy hiểm là hiện tượng ngày Thế Giới tận thế. Chúng tôi nhìn thấy rất rõ ràng, chúng tôi có biện pháp cứu vãn. Họ tranh lợi. Chúng ta bỏ lợi, chúng ta không tranh với họ, chúng ta nhẫn nhường, làm cái gương tốt cho người khác xem.

Quý Vị nói Quý Vị không có tiền của, hình như không dễ sống, còn tôi không cần một đồng xu nào mà cuộc sống của tôi còn vui sướng hơn Quý Vị, còn hạnh phúc hơn Quý Vị. Cho thấy không cần tiền cũng có thể vui sống được rất vui sướng, rất thoải mái.

Không cần danh, không cần địa vị, không cần quyền lực, cái gì cũng không cần mà cuộc sống vui sướng không gì sánh bằng. Hy vọng những người trong vòng danh lợi sau khi nghe được hãy nên suy nghĩ cho kỹ, hồi đầu là bến. Hai ngày trước chúng tôi giảng Kinh ở Chùa Cực Lạc, Tân Thành đã giảng hết hai đêm.

Pháp Sư Nhật Hằng Đại Biểu Trụ Trì hỏi tôi:

Thưa Pháp Sư Ngài thăng tòa có cần cầm cây Như Ý hay không?

Tôi không có cây Như Ý, nhưng trong Chùa của họ có, tôi nói không cần.

Trên tay cầm cây Như Ý là dụng ý gì?

Như Ý là tượng trưng cho ý nghĩa gì?

Đầu của cây Như Ý là cong trở lại là tượng trưng cho hồi đầu thì Như Ý.  Không hồi đầu thì không Như Ý gọi là hồi thủ như ý. Nhất định phải hiểu ý nghĩa của biểu pháp. Xưa kia ở Trung Quốc trong cuộc sống hàng ngày, bên trong bao hàm sự giáo dục rất sâu.

Người lãnh đạo Quốc Gia đội cái mũ, phía trên là bằng phẳng là tượng trưng cho người lãnh đạo Quốc Gia phải bình đẳng, phải đối xử với tất cả mọi người đều phải bình đẳng thì mới là người lãnh đạo tốt. Phía trước cái mũ còn có dây ngọc rủ xuống có mười hai sợi giống như rèm cửa sổ rủ xuống vậy.

Đó là ý nghĩa nhìn sự việc không nên nhìn quá rõ ràng, nếu như nhìn quá rõ ràng thì những người cấp dưới rất khó làm việc, chỉ cần đại khái không sai là được rồi.

Bạn hãy chú ý cái mũ, hai bên rủ xuống còn có hai cái bông tròn nhét lỗ tai, nghĩa là người lãnh đạo nhìn sự việc không nên nhìn quá rõ ràng cũng không nên nghe quá rõ ràng, đại để không sai là được rồi thì thiên hạ thái bình. Còn những thuộc hạ cấp dưới họ đội những cái mũ thì khác nhau. Họ đội cái mũ giống như lầu thang vậy, phía sau cao hơn phía dưới.

Phía trước thấp có hai tầng đó là ý nghĩa gì?

Tầng phía trước là chính mình, tầng phía sau là người khác là hy vọng người đến sau phải cao hơn ta gọi là mũ tấn thiền quán. Không ganh ghét nhân tài hy vọng ai nấy đều cao hơn ta, thì xã hội của chúng ta mới tiến bộ, Quốc Gia mới có tiền đồ, nhân dân mới có hạnh phúc.

Nếu tự mình nghĩ rằng ta cao hơn hết, tất cả mọi người đều không bằng ta, kể cả sự ăn mặc cũng là thời thời khắc khắc đánh thức bạn dạy bạn phải luôn luôn ghi nhớ. Thời xưa gọi sự ăn mặc là chương phục tức là trong y phục của bạn hàm có văn chương.

Không có thứ nào mà không dạy học, không có thứ nào mà thời thời khắc khắc đang đánh thức chúng ta. Cho nên chẳng những chúng ta không ganh ghét người vả lại còn giúp cho người thành tựu. Giúp cho người thành tựu việc tốt, không giúp cho người thành tựu việc ác.

Bất cứ nơi nào cũng phải nhắc nhở người, bất cứ chỗ nào cũng phải giúp đỡ người. Đó là công đức vô lượng, công đức chân thật, phải luôn luôn vì xã hội vì chúng sanh, không vì cá nhân cũng không vì đoàn thể của ta, khởi tâm động niệm đều là vì toàn cả Thế Giới mới có thể tuyển chọn thực sự nhân tài.

Thứ Tư là tinh tấn. Tức là ngày nay gọi tiến bộ, càng ngày càng mới. Mỗi ngày yêu cầu tiến bộ.

Thứ năm là thiền định: Tâm làm chủ, tuyệt đối không làm hoàn cảnh bên ngoài lay động, không bị hoàn cảnh bên ngoài dụ dỗ thì gọi là thiền định.

Thứ sáu là bát nhã: Trí huệ đối với tất cả đều rõ ràng minh bạch đó là trí huệ. Rõ ràng minh bạch mà không động tâm, không bị dụ dỗ đều là thực hiện trong cuộc sống hàng ngày. Mặc áo ăn cơm, từng li từng tí đều đầy đủ sáu cái ý nghĩa này, đây là sự học tập của hạnh Bồ Tát. Công việc ăn cơm, ăn cơm đều là bố thí Ba La Mật.

Ăn cơm sao gọi là bố thí?

Khi nãy đã nói, nói bố thí là phục vụ cho chúng sanh, cái thân thể này của ta ăn cơm là phải nuôi cái thân thể này?

Vì sao phải nuôi cái thân thể này?

Vì thân thể này là công cụ phục vụ cho chúng sanh, nếu không nuôi dưỡng cái công cụ này cho đàng hoàng thì không thể phục vụ chúng sanh. Cho nên ăn cơm là bố thí Ba La Mật.

Lúc ăn cơm phải trì giới. Trì giới lúc ăn cơm phải hiểu được cái quy củ của ăn cơm không thể ăn ngấu nghiến, cũng không thể ham ăn mỹ vị cho nên phải chú trọng dinh dưỡng vệ sinh. Không những chú trọng vệ sinh còn phải giữ gìn vệ sinh, còn phải hiểu được giữ gìn lòng từ bi, đây là trì giới.

Đó là việc ăn cơm trong lục Ba La Mật. Vệ sinh chúng ta phải hiểu ăn uống phải cho sạch sẽ. Vệ sinh là ăn uống phải chọn lựa món mà đối với tánh tình không tốt thì không thể ăn . Nhà Phật chúng ta chú trọng ăn chay. Trong việc ăn chay vì sao không thể ăn hành, ăn tỏi.

Có năm loại không thể ăn là ăn gì?

Là giữ gìn tánh tình. Nếu ăn những thứ này nhiều thì trên sinh lý sẽ phản ứng. Trong Kinh Lăng Nghiêm dạy rất rõ ràng, nếu ăn sống quá nhiều thì sẽ nóng giận, bị chọc tức nổi giận. Cho nên phải giữ gìn tánh tình.

Công việc ăn chay đều phải chú trọng, phải chọn lọc, không ăn thịt của tất cả chúng sanh là nuôi dưỡng tâm từ bi. Cho nên trong việc ăn uống cũng là trì giới tức là vệ sinh gọi là vệ tánh, giữ gìn tánh tình, giữ gìn tâm từ bi. Giữ gìn tâm từ bi gọi là vô úy bố thí, đó là chú trọng việc ăn uống.

Việc ăn uống có cần nhiều hay không?

Không cần, ăn uống là bổ sung năng lượng. Sự tiêu hao của năng lượng trên chín mươi phần trăm là ở trên vọng tưởng. Nếu ít vọng tưởng thì sự tiêu hao năng lượng của bạn cũng ít, sự ăn uống của bạn tự nhiên ít.

Năm xưa Đức Thế Tôn còn tại thế Tăng Đoàn của Ngài một ngày ăn một bữa thì đủ rồi, họ không có vọng tưởng. Những người có nhiều vọng tưởng như chúng ta suốt ngày đến chết suy nghĩ lung tung.

Nếu như một ngày ăn một bữa không tới một tuần thì chịu không nổi vì sự tiêu hao của chúng ta quá lớn nếu không bổ sung thì không được. Cũng như ngày nay chúng ta lái xe vậy, chiếc xe nào hao xăng nếu bạn không đổ xăng thì xe không chạy, đó là đạo lý như vậy.

Cho nên phải biết năng lượng của mình tiêu hao bao nhiêu?

Phải bổ sung vừa đúng không nên quá nhiều cũng không thể quá ít, đó là việc ăn uống trong Trì Giới Ba La Mật. Trong việc ăn uống cũng có Nhẫn Nhục Ba La Mật, như bạn rất muốn ăn món này nhưng bạn không ăn, bạn phải nhẫn nại. Như tôi rất muốn ăn ớt, rất thích ăn ớt lúc còn trẻ và lớn lên ở Hồ Nam Quý Châu.

Nhưng bây giờ tuổi tác đã lớn nếu ăn ớt thì dễ nóng nảy, nhìn thấy ớt cũng phải nhẫn nại không dám ăn, nhìn thấy mọi người ăn ta không thể ăn. Bây giờ chẳng những không thể ăn mà cả đồ chiên, đồ nướng cũng không thể ăn vì rất dễ nóng nảy, tôi không thể ăn nhưng tôi không thể bảo người khác không ăn. Tôi nhìn mọi người ăn, tôi ở đó tu Nhẫn Nhục.

Nói đến Tinh Tấn, việc ăn uống ngủ nghỉ cũng phải yêu cầu tiến bộ, đây là thuộc về Tinh Tấn Ba La Mật. Cũng bao gồm Thiền Định, Bát Nhã ở trong đó. Quý Vị hãy nghĩ xem ăn cơm uống nước, từng ly từng tí đầy đủ Lục Độ Ba La Mật.

Đó là việc nhỏ nếu nói rộng tức là bạn xử sự đối người tiếp vật làm công việc toàn bộ đều đã thực hiện ở trong đó. Năm ngoái tôi ở Kulalumpur giảng Kinh hai ngày, trích lục Kinh Hoa Nghiêm. Sau khi giảng xong, đêm hôm đó Cư Sĩ Lý Viên Hữu tổ chức buổi tiệc luyến tiếc mời chúng tôi đến.

Trong bữa tiệc tôi đã khai thị một tiếng đồng hồ, làm thế nào đem Lục Độ Ba La Mật thực hiện trong khách sạn của ông ta.

Bạn kinh doanh một khách sạn làm thế nào đem Lục Độ Ba La Mật thực hiện trong sự nghiệp kinh doanh khách sạn của bạn. Vì các nghành các nghề đều là Phật Pháp, từng li từng tí cũng là không lìa khỏi. Sau khi đã học Phật Pháp Sự giáo dục của Phật đích thực là có hữu dụng, cụ thể nói rõ đều nằm trong Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm.

Bạn xem trong Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm thì thấy đại chúng đều tham dự Pháp Hội tức là ngày nay chúng ta gọi là đoàn thể, có hơn hai trăm đoàn thể khác nhau, đây là hiển thị ra đa nguyên Văn Hóa không đồng dân tộc, không đồng chủng tộc. Họ đến tiếp cận lời dạy của Thích Ca Mâu Ni Phật, họ đều có thể thực hiện trong công việc nghề nghiệp cuộc sống của họ. Hiện nay, chúng ta đang giảng đến Ca Lầu La Vương.

Ca Lầu La Vương dịch thành tiếng Hoa gọi là Đại Bàng Kinh Xí Điểu, nó tiêu biểu cho ý nghĩa gì?

Tức là chúng ta ngày nay gọi hạng người này là gánh vác sự nghiệp hàng phong, mỗi ngày họ bay trên không, làm thế nào đem Phật Pháp thực hiện trong nghề nghiệp của họ.

Trong Kinh Hoa Nghiêm cũng nói mỗi đoạn Kinh Văn là một ngành nghề, Phật dạy cho họ phải như thế nào?

Cho nên Phật Giáo là giáo dục sinh hoạt, Phật Pháp là phương pháp sinh hoạt là chỉ dạy làm thế nào cuộc sống của chúng ta mỹ mãn, làm thế nào cuộc sống của chúng ta được vui sướng. Không những đời này kiếp này được vui sướng mỹ mãn. Đời đời kiếp kiếp hưởng phước cho nên là trí huệ viên mãn, phước đức viên mãn là nền giáo dục cứu cánh viên mãn.

Chúng ta và mọi người đều có duyên, cái duyên là do nhiều đời nhiều kiếp đã gieo trồng thiện căn phước đức có thành tựu nếu không thì không dễ gì gặp được. Trong bài Khai Kinh Kệ có nói trăm nghìn muôn ức kiếp khó gặp cho nên phải có duyên mới gặp được, đó đều là trong đời quá khứ thiện căn phước đức khởi hiện hành.

Hy vọng chúng ta trong đời này cố gắng mà nắm lấy cơ hội, trong đời này nhất định chúng ta phải thành tựu.

Hôm nay, là ngày tết Trung Thu, mừng ngày hoa đẹp Trăng tròn của chúng ta ở tại nơi đây cùng chia sẻ với tất cả mọi người.

Hôm nay thời gian đã hết, chúng tôi xin giảng đến đây.

Cảm ơn Quý Vị.

A Di Đà Phật!

****