Ñeä Töû Quy laø tri thöùc cuûa ngöôøi xöa ñeå laïi.
Toå Tieân nhaân haäu giuùp ñôõ cho neân
Quoác Gia, xaõ hoäi, ñôøi soáng cuûa Quyù vò
khi thöïc haønh seõ ñöôïc keát quaû toát ñeïp

detuquy.edu.vn

PHẬT THUYẾT KINH ĐẠI PHẬT ĐẢNH THỦ LĂNG NGHIÊM PHẨM ĐẠI THẾ CHÍ BỒ TÁT NIỆM PHẬT VIÊN THÔNG CHƯƠNG LƯỢC GIẢNG - TẬP HAI - GIẢI THÍCH KINH VĂN

PHẬT THUYẾT KINH ĐẠI PHẬT

ĐẢNH THỦ LĂNG NGHIÊM

PHẨM ĐẠI THẾ CHÍ BỒ TÁT

NIỆM PHẬT VIÊN THÔNG CHƯƠNG

LƯỢC GIẢNG

Giảng giải: Hòa Thượng Tịnh Không

Việt dịch: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa


TẬP HAI

GIẢI THÍCH KINH VĂN
 

Chánh Kinh: Đại Thế Chí Pháp Vương Tử, dữ kỳ đồng luân, ngũ thập nhị Bồ Tát, tức tùng tòa khởi, đảnh lễ Phật túc, nhi bạch Phật ngôn: Đại Thế Chí Pháp Vương Tử cùng những với năm mươi hai vị Bồ Tát đồng chí hướng với Ngài, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, mà bạch Phật rằng

Kinh Tư Ích chép: Nơi ta, Đại Thế Chí Bồ Tát tự xưng, đặt chân, chấn động Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới và Cung Điện ma, nên tên là Đại Thế Chí.

Kinh Tư Ích nói đầy đủ là Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh. Danh hiệu Đại Thế Chí Bồ Tát là do oai thế của Bồ Tát mà kiến lập, trong Tây Phương Tam Thánh, Ngài tượng trưng cho trí huệ. Trí huệ viên mãn rốt ráo mới có oai đức tối thù thắng, oai đức ấy có thể chấn động Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, cũng như chấn động Cung Điện ma.

Quán Kinh nói: Lúc vị Bồ Tát này đi, Mười Phương Thế Giới hết thảy chấn động. Lúc vị Bồ Tát này ngồi, cõi nước bảy báu đồng thời lay động, nghĩa là nói oai đức, trí huệ của Bồ Tát từa tựa như Kinh Tư Ích. Đấy đều là nói về phương diện tự lợi của Bồ Tát.

Kinh Bi Hoa nói: Nguyện Thế Giới của tôi giống như Thế Giới của Quán Thế Âm, giống hệt không khác.

Bảo Tạng Phật nói: Do ông nguyện lấy Đại Thiên Thế Giới, ta nay đặt tên ông là Đắc Đại Thế. Đấy là nói về đại nguyện của Bồ Tát.

Trong Kinh Phật có nói, trong tương lai A Di Đà Phật ở Tây Phương Cực Lạc Thế Giới cũng có lúc Bát Niết Bàn, thời gian ấy lâu phi thường. Phật nói là giả sử chúng sanh trong Mười Phương Thế Giới đều chứng đắc Bích Chi Phật, đều có Đại Thần thông như Mục Kiền Liên, suốt trọn vạn ức năm cũng chẳng tính nổi thọ mạng của Phật A Di Đà.

Thế Giới Cực Lạc kỳ diệu phi thường, chẳng hề có những thời kỳ Chánh Pháp, Tượng Pháp, Mạt Pháp và Diệt Pháp. Sau khi Phật A Di Đà nhập diệt, Quán Thế Âm ngay lập tức thành Phật tiếp nhiệm. Quán Thế Âm nhập diệt, Đại Thế Chí liền tiếp nối thành Phật.

Nếu có kẻ hoài nghi: Phật cũng nhập diệt, ta sanh về đó làm chi?

Nói nhập diệt nghĩa là Ứng Thân nhập diệt, chứ Pháp Thân bất sanh bất diệt, Báo Thân hữu sanh vô diệt.

Trong Phàm Thánh Đồng Cư Độ và Phương Tiện Hữu Dư Độ, thấy được Ứng Thân Phật A Di Đà, trong Thật Báo Trang Nghiêm Độ thấy được Báo Thân, trong Thường Tịch Quang Tịnh Độ thấy được Pháp Thân.

Trong Kinh, Đức Thế Tôn thường nói: Phàm phu tu thành Phật Quả phải tu ba đại A tăng kỳ kiếp, sanh về Tây Phương liền được Vô Lượng Thọ, cho nên chẳng cần sợ A Di Đà Phật nhập diệt.

Quán Kinh nói: Dùng trí huệ quang chiếu khắp hết thảy, khiến lìa Tam Đồ, đắc vô thượng lực, tức là nói về phương diện dùng lòng Từ Bi lợi tha. Kinh Lăng Nghiêm nói Đại Thế Chí có ba đức lớn, tức là niệm Đại Thế Phật nhiếp thủ vọng niệm nơi sáu căn, tiếp độ người niệm Phật. Đầy đủ ba đức này, oai đức đến cùng cực, nên gọi là Đại Thế Chí. Đại Thế Phật chính là A Di Đà Phật.

Cách tu hành của Ngài Đại Thế Chí là dùng tịnh niệm tiếp nối, một câu Phật Hiệu niệm đến rốt ráo, hết thảy những người niệm Phật cầu sanh Cực Lạc Thế Giới trong Mười Phương Thế Giới đến lúc lâm chung, Ngài và A Di Đà Phật cùng đến tiếp dẫn. Oai thần, trí lực của Ngài trong tất cả các Bồ Tát không có ai cao hơn được nên xưng là chí.

Pháp Vương Tử là danh hiệu của vị Bồ Tát Bổ Xứ, giống như Thái Tử trong thế gian, Ngài là hậu bổ Phật. Vị hậu bổ Phật thứ nhất là Quán Thế Âm, Ngài là vị hậu bổ Phật thứ hai. Câu Phật Hiệu chứa đựng ý nghĩa sâu xa phi thường, đạt đến chót đỉnh của mọi oai đức, thế lực thế gian lẫn xuất thế gian.

Tự tánh vốn sẵn có đủ trí huệ, Lục Tổ nói: Nào ngờ tự tánh vốn là sẵn có. Vốn có sẵn đủ nên gọi là tánh cụ hay là tánh đức. Vì phàm phu mê mất nên tánh đức phải nhờ vào tu đức mới có thể hiển lộ, tánh đức có hiển thị đến mức viên mãn rốt ráo thì mới thật sự thành Phật.

Ngài Đại Thế Chí dùng phương pháp tu đức nào để hiển lộ tánh đức?

Chính là niệm A Di Đà Phật, do đây biết một câu danh hiệu này công đức chẳng thể nghĩ bàn. Đồng luân nói theo cách bây giờ là đồng chí.

Đồng chí trong thế gian là hữu danh vô thực, đối với điều này, Cổ Nhân đã lập nghĩa nhất định: Bạn đồng học gọi là bằng, người cùng chí hướng với mình gọi là hữu.

Là đồng chí thật sự thì phải tâm đồng, nguyện đồng, giải đồng, hạnh đồng. Kinh Hoa Nghiêm nói đến tám mươi bốn thứ đồng, hoặc tám mươi tám thứ đồng, rất tỉ mỉ. Đại Thế Chí và A Di Đà Phật hoàn toàn tương đồng, trong Mười Phương Thế Giới, phàm những ai phát tâm niệm Phật đều là đồng luân của Ngài Đại Thế Chí cả.

Năm mươi hai là chữ dùng để phân biệt thứ loại: Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác, Diệu Giác. Tổng cộng năm mươi hai giai đoạn, từ sơ phát tâm thẳng đến khi thành Phật chẳng biến cải. Hết thảy người tu Pháp Môn niệm Phật đều có thể gọi là Đại Thế Chí Bồ Tát, đều là đồng luân của Đại Thế Chí Bồ Tát.

Pháp Môn bình đẳng chẳng có cao thấp, do phù hợp căn cơ nên pháp nào cũng tốt. Nhưng con người phần nhiều chẳng phải là căn tánh thông lợi, chỉ e sự nhiều công ít, khó thể thành công.

Chỉ có Pháp Môn Niệm Phật này ai cũng có thể niệm được, đi, đứng, nằm, ngồi đều có thể niệm được, thời thời khắc khắc chẳng gián đoạn, giúp chúng ta siêu xuất sanh tử luân hồi, bởi thế, người niệm Phật đều có trí huệ chân thật vô thượng.

Thấp Tín: Mọi người nói chung đối với chuyện vì sao phải học Phật, vì sao phải cầu thành Phật chẳng hiểu rõ lắm. Phật là chân tâm của chính mình, mà cũng là bổn tánh của chính mình. Thành Phật là thành tựu trí huệ viên mãn của tánh đức. Phật chính là tâm, vốn sẵn có đủ vạn đức, vạn năng.

Kinh Kim Cang dạy: Lòng tin thanh tịnh bèn sanh thật tướngDo lòng tin trong sạch mức độ khác nhau nên mới có mười giai đoạn, tu mãn địa vị Thập Tín sẽ nhập Sơ Trụ, Sơ Trụ là bước đầu của Đại Thừa.

Thập Trụ: Trụ trong Tam Muội, tức là trụ trong Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác, luôn gìn giữ chân tâm thường trụ, chẳng bị thoái chuyển. Quán thật tướng Phật chính là nhìn vào tự tánh.

Lục Tổ nói: Nào ngờ tự tánh có thể sanh ra vạn pháp. Tánh đức của Ngài tỏ lộ, liền tự hiểu rõ chân tướng của nhân sanh, Vũ Trụ.

Thập Hạnh: Hạnh là Pháp Môn Niệm Phật, chỉ niệm một câu Phật Hiệu, dùng pháp khó tin dễ hành để độ người niệm Phật. Công phu niệm Phật càng sâu, càng thể hội được việc niệm Phật.

Thập Hồi Hướng: Xoay niệm hướng về tâm Phật, tất cả hết thảy công đức hồi hướng về Phật tâm, thông thường hồi hướng ba nơi:

Hồi hướng Thật Tế: Thật Tế chính là chân tướng sự thật.

Hồi hướng Bồ Đề: Bồ Đề là trí huệ chân thật.

Hồi hướng chúng sanh: Sau khi chính mình đã thành tựu, vẫn còn bao người mê mất tự tánh, hy vọng họ thảy đều giác ngộ. Hồi hướng là đem hết thảy công đức mình đã tích lũy, chẳng cần đến nữa, đem cho hết thảy chúng sanh. Đấy chính là phá ngã chấp, lợi ích của việc hồi hướng chính là phá nhị chấp.

Thập Địa: Địa tức là Phật Địa. Hồi hướng viên mãn bèn nhập Phật Địa, rất gần với Phật, địa vị mình chứng được rất gần với quả vị Phật. Đẳng Giác chính là bằng với quả Phật viên mãn. Niệm Phật là công đức ngay trên quả vị Như Lai. Người niệm Phật là thượng thượng nhân, cũng là hoa phân đà lợi trong loài người.

Chánh Kinh: Ngã ức vãng tích, hằng hà sa kiếp, hữu Phật xuất thế, danh Vô Lượng Quang. Thập nhị Như Lai, tương kế nhất kiếp, kỳ tối hậu Phật, danh Siêu Nhật Nguyệt Quang.

Con nhớ xưa kia trong hằng hà sa kiếp, có Phật xuất thế, tên là Vô Lượng Quang. Mười hai vị Như Lai nối tiếp nhau xuất hiện trong một kiếp.

Đức Phật sau cùng tên là Siêu Nhật Nguyệt Quang, Đại Thế Chí Bồ Tát bảo cho chúng ta biết về Sư thừa của Ngài, trong vô lượng kiếp trước có một Đức Phật, tên là Vô Lượng Quang. Có mười hai vị Như Lai nối tiếp nhau xuất thế trong một kiếp.

Kinh Vô Lượng Thọ, chương hai mươi lăm có nói: A Di Đà Phật, quang minh tốt lành, sáng hơn Mặt Trời, Mặt Trăng ngàn vạn ức lần, ấy tôn quý nhất trong các quang minh, là Vua trong các Phật. Vì thế, Vô Lượng Thọ Phật còn có tên là Vô Lượng Quang Phật.

Nói trên mặt lý, Phật Phật Đạo đồng, tuyệt chẳng có cao thấp, xưng tụng là tôn quý nhất trong các quang minh, là Vua trong các Phật tựa hồ giáo nghĩa mâu thuẫn nhau?

Nên biết rằng, luận trên mặt là bình đẳng, nhưng trên mặt sự lại chẳng bình đẳng. Sau khi thành Phật chứng quả, do lúc ban đầu khi tu nhân phát nguyện sai khác, nên về mặt tướng, Chư Phật chẳng thể sánh bằng Phật A Di Đà.

Chư Phật thấy A Di Đà Phật phát ra bốn mươi tám nguyện, thành quả là Thế Giới Cực Lạc trang nghiêm, đương nhiên nhất trí ủng hộ, khen ngợi, đều muốn giúp A Di Đà Phật tiếp dẫn chúng sanh trong Mười Phương Thế Giới sanh về Thế Giới Cực Lạc, bất tất phải mở riêng trường phái.

Kinh Vô Lượng Thọ còn nêu danh xưng của mười hai Như Lai, lược nói như sau:

Vô Lượng Quang Phật: Tiêu biểu chân trí huệ.

Vô Biên Quang Phật: Tiêu biểu giải thoát bình đẳng nhất như.

Vô Ngại Quang Phật: Tiêu biểu thể tịch, dụng diệu tự tại: Thể tánh thanh tịch, tịch tĩnh. Dụng diệu là khởi tác dụng mầu nhiệm tự tại. Thể tịch là tánh không, dụng diệu là diệu hữu.

Vô Đẳng Quang Phật: Là do tâm đại bi kiến lập, dẹp nỗi khổ cho chúng sanh không ai có thể sánh bằng.

Trí Huệ Quang Phật: Trừ bụi nhơ vô minh, ban cho lợi ích chân thật. Chỉ có trí huệ chân chánh mới phá được vô minh, vô minh là hồ đồ, tự mình khi mê, khi ngộ. Do vậy cũng có thể quán sát, thời thời khắc khắc giúp đỡ người khác, niệm niệm lợi ích chúng sanh, tức là trí huệ. Lợi ích chân thật là khuyên người niệm Phật, sau khi Vãng Sanh tất cả vô minh đều phá sạch.

Thường Chiếu Quang Phật: Giống như Chư Phật phóng quang, chiếu khắp Pháp Giới. Thường quang của Phật A Di Đà chiếu khắp Pháp Giới, tịch nhưng thường chiếu. Tịch là tâm thanh tịnh. Chiếu là tâm bình đẳng mà cũng là tâm đại từ bi. Niệm niệm muốn phổ độ chúng sanh nhưng tâm không nhiễm trước.

Thanh Tịnh Quang Phật: Là ba nghiệp chẳng nhiễm, quyết chẳng chấp trước, biến phước đức thành công đức, dùng tâm thanh tịnh tu phước đức, chẳng hạn như tu bố thí có thể đạt đến tam luân không tịch, lại còn thực hiện hạnh ấy một cách vô cùng tích cực.

Hoan Hỉ Quang Phật: Từ là làm cho an lạc, làm cho hết thảy chúng sanh an lạc.

Giải Thoát Quang Phật: Lìa tướng mà lợi ích khắp tất cả, cả tiểu lẫn Đại Thừa đều bàn đến. Giải là muôn vàn gút mắc trong tâm đều tháo gỡ cả. Tiểu Thừa chỉ đoạn được kiến tư mà ra khỏi Tam Giới. Đại Thừa ngoại trừ kiến tư, còn có trần sa, Vô Minh.

An Ổn Quang: Ý nghĩa gần giống với chữ Thủ Lăng Nghiêm, có nghĩa là hết thảy rốt ráo kiên cố, lìa tướng sanh diệt. Có sanh diệt là chẳng an ổn. Nói trên mặt lý, chân tâm bổn tánh chẳng sanh chẳng diệt, ai ấy đều có đủ. Phàm phu tuy có nhưng không dùng được, có ý niệm sanh diệt bèn bị chướng ngại, bị luân hồi oan uổng trong Lục Đạo.

Mười thứ quang minh nói trên đây đều thuộc Thường Quang, hai loại quang minh tiếp theo đây thuộc về Phóng Quang.

Siêu Nhật Nguyệt Quang: Quang minh của Đức Phật vượt xa Mặt Trời, Mặt Trăng.

Bất Tư Nghị Quang: Cổ Đức nói quang minh này có năm điều chẳng thể nghĩ bàn.

Vượt ngang ra khỏi Tam Giới, chẳng cần phải đợi đến khi đoạn hoặcQuang minh của Phật A Di Đà chiếu khắp hết thảy, nhưng chúng ta không thấy được, cũng chẳng nhận biết. Hiện tại, người có công năng định lực mới có thể thấy được. Quang minh này thật đáng sánh với tâm thanh tịnh.

Vọng niệm chẳng đoạn, quyết định chẳng thể thoát khỏi Lục Đạo luân hồi. Thiền Gia chẳng qua chỉ đè nén được kiến tư hoặc nên chẳng thể thoát Tam Giới. Chẳng đoạn phiền não mà có thể thoát khỏi Tam Giới thì chỉ riêng mình Pháp Niệm Phật mà thôi.

Hễ sanh về Tây Phương liền đầy đủ cả bốn cõi theo hiều ngang, chẳng phải do tiến tu dần dần: Tất cả Pháp Đại Thừa, tu nhân chứng quả đều có thứ tự, những Thế Giới khác đều có đủ cả bốn cõi, nhưng không phát khởi cùng một lúc.

Phàm Thánh Đồng Cư Độ có phàm phu mà cũng có Thánh Nhân, có phàm phu giác ngộ, có người chân chánh tu hành, nhưng công phu chưa đạt đến tột cùng, chẳng thể siêu việt. Lại còn có Bồ Tát, La Hán thị hiện trong cõi này để hóa độ chúng sanh.

Nếu đoạn được Kiến Tư phiền não, sẽ vượt khỏi Lục Đạo, dự vào Phương Tiện Hữu Dư Độ, ở ngoài Tam Giới. Nếu như phá được một phẩm vô minh, chứng được một phần Pháp Thân, liền nhập Thật Báo Trang Nghiêm Độ.

Hai cõi trước là do A lại da thức biến hiện, là tướng phần của A lại da thức. Thật Báo Trang Nghiêm Độ là pháp tánh độ, do chân như bổn tánh biến hiện ra. Thường Tịch Quang là , xuyên suốt các cõi kia.

Trong thực tế, chỉ có Ba Cõi, nhưng trong Cực Lạc Thế Giới, bốn cõi đồng thời khởi. Tuy trình độ bất đồng nhưng vẫn khởi cùng lúc, cho nên một thứ sanh thì hết thảy đều sanh. Phàm phu sanh trong Đồng Cư Độ, Tiểu Thừa La Hán hồi Tiểu hướng Đại sanh trong Phương Tiện Độ, Bồ Tát sanh cõi Thật Báo. Đến Tây Phương hết thảy cùng khởi.

Chỉ trì danh hiệu, chẳng cần đến phương tiện nào khác: Chẳng cần phải tu Pháp Môn nào khác, cũng chẳng cần phải đọc Kinh Điển nào khác, chỉ dựa vào một câu Phật Hiệu, chẳng cần đến những thứ nào khác.

Lấy bảy ngày làm kỳ hạn, chẳng cần phải nhiều đời nhiều kiếp: Hết thảy mọi sự thế gian, xuất thế gian đều buông xuống hết, thành tâm niệm Phật, bảy ngày liền có thể thành tựu.

Trì danh hiệu một Đức Phật, liền được Chư Phật hộ niệm, chẳng khác gì trì danh hiệu hết thảy Phật: Hết thảy Chư Phật tán thán Thế Giới Cực Lạc y báo, chánh báo trang nghiêm. Phật giảng Kinh Vô Lượng Thọ là chương trình tu luyện chính để học Phật, các Kinh Điển khác đều để phụ trợ.

Mười hai Đức Phật vừa nói trên là Cổ Phật, A Di Đà Phật thành Phật chẳng qua mới mười kiếp, Cổ Phật cùng với Đức Phật A Di Đà hiện tại đồng danh đồng hiệu.

Ở Trung Quốc, vào thời xưa, Cha Mẹ đặt tên cho con cái nhằm bày tỏ niềm hy vọng nơi con cái. danh hiệu của một Đức Phật là do trí huệ, đức năng, và phương pháp, biện pháp giáo hóa chúng sanh của Ngài mà kiến lập, bởi thế mới có những vị Phật danh hiệu giống nhau.

Chánh Kinh: Bỉ Phật Giáo ngã, Niệm Phật Tam Muội. Đức Phật ấy dạy con Niệm Phật Tam Muội. Vô Lượng Thọ Phật dạy Đại Thế Chí Bồ Tát Pháp Niệm Phật Tam Muội. Tam Muội là tiếng Phạn, nghĩa là chánh thọ. Niệm Phật, niệm thật hoan hỷ phi thường, niệm đến mức tinh thần no đủ, càng niệm càng lên tinh thần, là đạt Niệm Phật Tam Muội.

Cảm thọ của phàm phu gồm năm thứ: Khổ, sướng, buồn, vui, xả. Từ trời Dục Giới trở xuống, có đủ năm thứ này. Không có năm thứ này thì cuộc sống luôn bình ổn. Trời Sắc Giới khổ, sướng, buồn, vui đều chẳng có, chỉ có mỗi x thọ, chia thành tám đẳng cấp Tứ Thiền Bát Định. Do chẳng thể giữ được Định ấy vĩnh cữu, giống như đá đè cỏ, nên chỉ là tạm thời. Nếu như đoạn dứt được cái gốc, liền thành Tam Muội.

Niệm Phật có sự và lý, sự niệm là nhất tâm nghĩ nhớ, chẳng quản là sự hay , mấu chốt là nhất tâm, hễ có tạp niệm vọng tưởng thì chẳng phải là nhất tâm. Thông thường, quá nửa người đời dùng tạp tâm niệm Phật, chứ nếu thật sự nhất tâm, sẽ trong một thất hay hai thất liền đắc Tam Muội.

Về lý niệm, niệm chính là Thỉ Giác, Phật là bổn giác. Bổn và Thỉ hợp nhau, Thỉ Bổn chẳng hai, gọi là Niệm Phật. lý niệm tức là thật tướng Niệm Phật. Người sơ học rất khó thực hiện được, hãy nên hạ thủ bằng sự niệm, từ sự nhất tâm niệm đến lý nhất tâm. Từ bậc Sơ Trụ trong Viên Giáo trở lên mới thuộc về lý niệm, từ Thập Tín trở xuống đều thuộc về sự niệm.

Niệm Phật có bốn cách: Một là thật tướng Niệm Phật, tức là niệm Đức Phật nơi tự tánh, hiểu cặn kẽ chân tánh của tự tâm, chẳng dùng tâm ý thức, chúng ta chẳng thực hiện nổi.

Hai là Quán Tưởng Niệm Phật như mười sáu phép quán. Lúc tâm tưởng Phật thì tâm ấy chính là ba mươi hai tướng, tám mươi tùy hình hảo. Tâm tưởng Phật biến thành Phật, tưởng cái gì liền biến thành cái đó. Tưởng chỗ nào có bệnh, chỗ ấy bèn có bệnh, thật đúng là chỗ nào cũng bệnh.

Ngày ngày nghĩ tưởng khổ não, sao Quý Vị đoạn phiền não cho được?

Mười sáu phép quán, tu phép nào cũng có thể thành tựu. Mười hai phép quán đầu đều là quán tưởng, phép quán thứ mười ba là quán tượng, phép quán thứ mười sáu sau rốt là Trì Danh Niệm Phật.

Ba là Quán Tượng Niệm Phật, quán Tượng Phật vẽ, đắp, hay đúc.

Kinh dạy: Đứng lên chắp tay, nhất tâm quán Phật. Trong nhà nếu có điện thờ Phật, nếu có thời gian rảnh rỗi, chẳng được lìa khỏi Phật đường.

Bốn là Trì Danh Niệm Phật, nhất tâm chấp trì danh hiệu, chẳng hoài nghi, chẳng xen tạp, chẳng gián đoạn. Đây là điều Đại Thế Chí Bồ Tát gọi là tịnh niệm tiếp nối. Trong bản chú sớ Quán Kinh, Thiện Đạo Đại Sư chỉ dạy vô cùng tường tận, phải tin vào lời Phật, đặc biệt là Kinh Vãng Sanh.

Ngoại trừ ba Kinh Tịnh Độ ra, còn có Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm và Đại Thế Chí Niệm Phật Viên Thông Chương. Dẫu cho Cổ Phật tái lai, Thuyết Pháp hoàn toàn mâu thuẫn với những Kinh trên cũng chẳng tin theo.

Tiếng Phạn Tam Muội, Tàu dịch là Chánh Định, còn dịch là Chánh Tư. Tứ Thiền Bát Định của thế gian chẳng thể gọi là Chánh Định Chánh Tư, bởi chẳng thể giữ được chúng vĩnh cửu, chỉ tạm thời đè ép được phiền não chứ không đoạn được phiền não. Còn Chánh Tư Duy đã ly khai vọng tưởng.

Phàm phu khởi tâm động niệm không gì chẳng phải là tội, thiện ác hỗn tạp. nhất tâm niệm Phật chính là Niệm Phật Tam Muội, cảnh giới ấy có sâu cạn khác nhau, công phu chẳng giống nhau.

Đọc truyện ký xưa nay, thấy rất nhiều người niệm Phật ba năm liền có thể sanh tử tự ý, tùy nguyện Vãng Sanh, xem Thế Giới này có ai hữu duyên chăng, nếu vẫn còn có cơ duyên để độ, bèn chẳng ngại lưu lại thêm một thời gian nữa, nếu không sẽ sớm ngày Vãng Sanh.

Niệm Phật Tam Muội còn gọi là Nhất Hạnh Tam Muội, cũng gọi là Chư Phật Hiện Tiền Tam Muội, Bát Nhã Tam Muội, Phổ Đẳng Tam Muội. Từ xưa, Tổ Sư Đại Đức đem hơn ba trăm hội giảng Kinh trong cả một đời giáo hóa của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chia thành môn loại khác nhau, gọi là phán giáo.

Tông Thiên Thai chia thành tám giáo, Tông Hiền Thủ chia thành năm giáo. Ở đây, theo Tông Hiền Thành chia thành Tiểu, Chung, Thỉ, Đốn, ViênNiệm Phật Tam Muội có sự niệm và lý niệm. Phàm những gì trọng nơi sự tướng là thuộc về tiểu giáo sơ cấp, giống như tiểu học.

Các Tông khác Tiểu chẳng thông Đại. Pháp Môn này tuy có thứ lớp nhưng cũng viên dung. Trong Pháp Bảo Đàn Kinh, Lục Tổ giảng về Nhất Hạnh Tam Muội rất tường tận, Ngài truyền dạy Thiền Tông đốn ngộ.

Thiền được nói trong Thiền Tông chẳng phải là Thiền Định trong Lục Độ, mà là Bát Nhã Ba La Mật. Vừa mở đầu Đàn Kinh, Lục Tổ dạy mọi người niệm Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa, minh xác Thiền Tông tu Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa.

Nhất Hạnh nghĩa là ý chuyên chú, Pháp Môn Tịnh Tông từ sự Niệm có thể nhập lý Niệm, cũng thuộc vào Nhất Hạnh Tam Muội, thuộc về Đốn Ngộ. Sau khi ngộ khởi tu, chưa thấy ai cũng có thể đốn chứng. So với Thiền Tông, Niệm Phật không đốn ngộ bằng, nhưng về mặt đốn chứng lại trỗi hơn Thiền Tông. Một đằng siêu thắng về mặt ngộ, một đằng siêu thắng về mặt chứng.

Nhưng ngộ rồi chẳng nhất định sẽ chứng, bởi thế, Cổ Đức nói:

Đản đắc kiến Di Đà,

Hà sầu bất khai ngộ.

Chỉ được thấy Di Đà,

Lo chi chẳng khai ngộ?

Thấy Đức Di Đà, tự nhiên khai ngộ, bởi thế so với Thiền Tông, Niệm Phật phải thù thắng hơn. Chư Phật Hiện Tiền Tam Muội thuộc vào cảnh giới Đại Thừa Chung Giáo, niệm một câu A Di Đà Phật bao gồm danh hiệu hết thảy Chư Phật, chẳng sót một Đức Phật nào. Tựa đề Kinh A Di Đà vốn là Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh. Hết thảy Chư Phật đều vì chúng sanh giảng Kinh A Di Đà.

Phật giảng Kinh là ứng cơ Thuyết Pháp, các Kinh Điển chủ yếu đều đã được dịch sang Trung Văn, trong đó, Kinh khế cơ nhất là Kinh A Di Đà, độ khắp ba căn, thâu trọn lợi độn, khiến cho chúng sanh bình đẳng được độ.

Vì thế, Đại Sư Thiện Đạo nói: Sở dĩ Như Lai xuất hiện trong thế gian chỉ là để nói Di Đà nguyện hải.

Phật đã vì một sự kiện này mà xuất hiện trong thế gian, vì sao vẫn phải nói những Pháp Môn khác?

Chỉ là do chúng sanh chẳng tin Pháp Môn này, chỉ có mỗi Pháp Môn này là Pháp Môn thành Phật ngay trong một đời. Ai có cơ hội một đời thành Phật thì người đó mới có thể chuyên tâm tin tưởng Pháp Môn này, nhưng những người như thế rất ít.

Trong cách phán giáo của Tông Hoa Nghiêm, Bát Nhã Tam Muội thuộc về Đại Thừa Thỉ Giáo. Sơ Trụ Bồ Tát thật sự là bước mở đầu của Đại Thừa, Sơ Trụ phá một phần vô minh, chứng một phần Pháp Thân. Vì thế, gọi là Đại Thừa Thỉ Giáo. Nếu Quý Vị có dịp, hãy đọc cuốn sách vỡ lòng của Đại Thừa là Đại Thừa Khởi Tín Luận.

Luận ấy là sách giáo khoa của Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo, đương nhiên chúng ta xem chẳng hiểu.

Tiểu ThừA La Hán, Bích Chi Phật đã đoạn kiến tư hoặc, vượt thoát Tam Giới Lục Đạo luân hồi, trong ba đức đạt được Giải Thoát đức, được tự tại. Ngoài ra, Pháp Thân đức lẫn Bát Nhã đức đều chưa chứng đắc. Thập Trụ là giai đoạn mở đầu của Đại Thừa, Thập Địa là rốt cục của Đại Thừa. Địa thứ mười gọi là Pháp Vân địa.

Kinh Kim Cang cũng là Đại Thừa Thỉ Giáo, nêu lên những tiêu chuẩn của Bồ Tát, Kinh dạy: Nếu có Bồ Tát có tướng ta, tướng người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả thì chẳng phải là Bồ Tát. Lìa được bốn tướng mới tính là nhập môn, phân nửa trên là ly tướng.

Phân nửa dưới là Thế Tôn nói ngã kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến chẳng phải là ngã kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến thì mới gọi là ngã kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến.

Kiến là ý niệm, câu trên đây ý nói chẳng khởi tâm, chẳng động niệm. Nửa phần sau này là ly kiến. Ngay nơi một câu Phật Hiệu liền khế nhập cảnh giới này, bốn tướng, bốn kiến đều chẳng có, phương pháp đơn giản, cũng là Đại Thừa Thỉ Giáo.

Cuối cùng là Phổ Đẳng Tam Muội. Phổ là phổ biến, rộng lớn vô biên, đẳng là bình đẳng, tận Hư Không, khắp Pháp Giới, trọn chẳng có tướng sai khác, thật sự viên mão rốt ráo.

Đem câu Nam Mô A Di Đà Phật dịch thành Quy Y Vô Lượng Thọ là Phổ Đẳng Tam Muội. Đem vô lượng công đức Phật A Di Đà đã chứng đắc biến thành cái nhân để tu cho chính mình, nhân tột biển quả, quả thấu nguồn nhân, nhân quả chẳng hai.

Ta niệm là niệm Phật A Di Đà trong tâm ta, A Di Đà Phật là chúng sanh trong cái tâm niệm Phật. Chúng sanh, tâm và Phật là nhất tâm, nhất tâm không hai tâm, lập tức trong một niệm công đức viên mãn của Chư Phật và chính mình dung hợp thành một phiến.

Do đây, ta biết rằng: Một câu Phật Hiệu gồm đủ cả Tiểu, Thỉ, Chung, Đốn, Viên. Niệm Phật Tam Muội, Cổ Nhân gọi là đường tắt, nhưng Trì Danh là đường tắt nhất trong các đường tắt, dễ đi mau đến, xưng danh hiệu Ngài, bổn nguyện như thế.

Tâm người phương này tạp loạn, ắt phải làm cho chuyên tâm một cảnh mới hòng được Vãng Sanh. Tôi thường yêu cầu các vị niệm Kinh Vô Lượng Thọ ba ngàn lần, là nhằm tu tâm thanh tịnh, lại dùng lòng tin thanh tịnh kiên định để chấp trì danh hiệu, có thể đạt đến minh tâm kiến tánh, đắc Vô Thượng Bồ Đề, trong một đời có thể đạt được.

Lão Pháp Sư Đàm Hư khai thị trong Phật Thất tại Đạo Tràng nọ ở Hương Cảng, có lưu lại một cuốn băng thâu âm, Ngài lại nói giọng Thiên Tân, tôi phải nghe hết ba ngày mới hiểu hoàn toàn. Người có thiện căn nghe được cuốn băng ấy có thể Vãng Sanh, tôi nhờ người làm thành CD, rồi lại chế thành băng thâu âm.

Có người chuyên niệm một câu Phật Hiệu, rồi đứng mà qua đời hoặc ngồi mà qua đời. Người thật, việc thật, bọn họ làm được như thế, thân tâm lẫn Thế Giới đều buông xuống cả, cái gì cũng chẳng có. Thiện căn của mình có hợp với tiêu chuẩn hay không chính mình phải tự biết.

Nếu vẫn là ba tâm hai ý thì chưa đạt được tiêu chuẩn. Cũng chẳng nghĩ đến Phật Pháp, thế sự lại càng chẳng tưởng đến. Việc gì cần cứ làm, làm xong không nghĩ đến nữa, trong tâm chỉ có một câu A Di Đà Phật.

Lại như pháp quán tưởng và quán tượng, cứ chiếu theo Thập Lục Quán Kinh, quán Mặt Trời lặn, mở mắt, nhắm mắt vẫn có vầng thái dương. Dẫu có quán thành vẫn là chấp tướng, để đạt đến Tây phương Phải bỏ được tướng, nhưng trừ tướng cũng chẳng dễ gì.

***